Biển và người

Nguyễn Viết Hoa

Biển tội nghiệp và con người  tội nghiệpBiển

Triệu năm rồi cứ quanh quẩn bên nhau

Biển cố dâng cho con sóng bạc đầu

Cố lặng lẽ cho hoàng hôn tím

Những con tàu  khát khao tình biển

Bỗng nhận ra hoang mạc giữa đại dương.

Advertisements

Vắng bạn

 
 
Vắng bạn

Tặng anh Phan Cung Việt

Chẳng phải sơ tình nên vắng bạn20131014_191747
Tuổi nhiều ai cũng ngại như nhau
Bước ra khỏi cửa bao lo lắng
Thèm những ngày xa chấp bể dâu
 

ĐÀO NAM SƠN

Lời bình của PHAN CUNG VIỆT

Một ngày như đã chớm nhiều sang hạ, nhận bài tứ tuyệt của nhà thơ Đào Nam Sơn, tôi bỗng cảm thấy thư thái như thể có ngon gió mát thổi vào trong lòng. Cái chất mát khác lạ, sâu hơn và kích hoạt hơn sự mát mẻ bình thường. Đương nhiên nó thuộc về ngọn gió tâm hồn, ngọn gió thơ. Đúng hơn, thuộc về thơ tứ tuyệt. Thuộc về bài thơ tứ tuyệt này.

Từ xưa bình thơ tứ tuyệt, trước sự chung đúc dồn nén sâu thẳm của thể loại này, người ta phải dựa trước vào luật thơ, như câu mở câu kết. Bài thơ Vắng Bạn của  nhà thơ Đào Nam Sơn làm mới tôi đến nỗi, tôi muốn thăng hoa trên những luật thơ ấy. Tìm thấy ở nó sức mạnh mới mẻ của chính thơ hiện đại. Và hơn thế, nó mở rộng, giao hoà, kết hợp được nhiều thi pháp khác. Bài thơ với tôi có sức chinh phục lạ lùng.

Trên đường giao lưu tình cảm và chân cảm, tứ tuyệt có thế mạnh riêng, từ xưa. Tình nặng không thể nói nhiều, nói dài. Nó sâu thẳm như sông sâu, giếng sâu. Kẻ dò được nó không dễ. Giếng thì phải nối nhiều sợi dây dài. Chất tình chất nghĩa của nó vục vào tận đáy. Với người thì đó chính là đáy lòng. Thật logic, chặt chẽ, không thể nói và bình luận cách nào khác được.

Tôi ngẫm ngợi từng câu, từng lời trong bài thơ của nhà thơ. Mỗi câu mỗi dòng thấm đượm cái duyên tứ tuyệt, cái luật tứ tuyệt. Nhưng chính mỗi câu thơ chặt đó đã tự vỗ cánh lên để chở cái tình của tác giả, để hoà vào biển tình, hoà vào dòng thơ tuôn chảy giữa thời gian. Chẳng phải sơ tình nên vắng bạn. Câu mở này lạ , mà hay. Cái trí lặn sâu vào cái tình. Người đọc không kịp bắt bẻ nó, bắt nó lí giải thế nào, vì sao. Nó mở rất thơ, rất tự tin. Nó thật thông minh. Tuổi nhiều ai cũng ngại như nhau. Câu thơ chân mộc này đã xuất hiện , nối tiếp. Nối cái tình nặng, khi vắng bạn. Cùng lí giải cái cớ cần có bài thơ. Bước ra khỏi cửa bao lo lắng. Câu thơ tự ngã này thật giản dị, thương cảm. Thiết tưởng một câu thơ khác rất khó thay vào đây. Vì nó phải liền “ mạch lòng”. Khác đi một chút, quá tỉnh một chút, là sẽ phá vỡ bài thơ chung đúc. Và câu kết này mới thật lạ, bước chân sang sự sáng tạo. Từ ngữ mới. Mạch câu mới. Thèm những ngày xa chấp bể dâu.Thú thực, tôi phục và yêu câu kết này lắm.

Đào Nam Sơn là người yêu thơ tứ tuyệt. Tứ tuyệt của Đào Nam Sơn dám định hình quy chuẩn, nhưng cũng dám làm mới. Một lần nữa thêm hiểu thơ là người. Thêm hiểu vì sao có bài thơ Vắng Bạn. Thêm hiểu cho cái tình của nhà thơ và người được vinh hạnh nhận thơ. Xin dừng để cho bài thơ nói thay. Tình bạn và tình thơ nói thay. Chỉ trong một bài tứ tuyệt VẮNG BẠN.
Đất Bắc, cuối 3.2013

theo BuiKimAnh

Thưởng ngoạn tranh dân gian Đông Hồ (số 13)

Phùng Hồng Kổn

Con trâu – “là đầu cơ nghiệp của nhà nông”, cũng được các nghệ nhân Đông Hồ  dành nhiều tâm huyết. Tranh Cưỡi trâu thổi sáo  có chữ: “Hà diệp cái thanh thanh” (lọng lá sen  xanh xanh). Một tầu lá sen  dựng đứng  như chiếc ô ý tưởng thật thú vị. Xưa có câu “Đàn gẩy tai trâu” – rõ ràng là không đúng với trường hợp này. Con trâu nghển cổ thưởng thức tiếng sáo,  tư thế, dáng vẻ của nó khiến ta cũng nghe thấy tiếng sáo réo rắt,  thấy  bầu trời trong xanh lồng lộng, thấy cuộc sống thanh bình… Tranh Cưỡi trâu thả diều  có chữ: “Vũ thu phong nhất tướng” (một hình ảnh gió thu múa). Một cậu bé nằm trên lưng trâu  thả diều … thật thi vị. Nhưng,… sao có thể nằm ngửa trên lưng trâu?  và  diều là một chiếc nón?

Chăn trâu thổi sáo

Chăn trâu thả diều

Thực tế khó có thể nằm trên lưng trâu mà dong cái diều bằng nón mê như vậy. Thế  mà ngắm tranh ta vẫn thấy khoái? Em ma nu en Căng (1724-1804) nhà triết học lỗi lạc người Đức cho rằng: “Chỉ nên coi cái đẹp chân chính những gì mang lại cho ta khoái cảm, làm cho ta thích thú, tình cảm  khi đó là t́nh cảm thẩm mỹ. Sự thoả măn về cái đẹp nảy sinh không hề có sự tham gia của lý tính và bởi vậy không thể luận chứng nó về mặt lô gíc được”.

Và  ta hãy đọc một câu phương ngôn về trẻ chăn trâu:

“Đầu đội nón mê như lọng che,

Tay cầm cành tre như roi ngựa.”

Con trâu ở đây lại có cách chia xẻ niềm vui với chủ nhân của nó một cách khác –  nó “múa”! Các hoạ sỹ hiện đại, những người không thích tuân thủ các quy tắc của hội hoạ cổ điển, những người không vẽ “cái nhìn thấy bằng mắt”,  kể cả những nghệ sỹ “sắp đặt” (instalation) – có lẽ trong giấc mơ cũng chẳng thấy mình nằm trên lưng trâu, chiếc nón  biến thành chiếc diều bồng bềnh trong không gian! Trí tưởng tượng của ông cha mình thật kỳ diệu. Đôi tranh này rõ ràng là đã thể hiện “ba trong một”: Thơ – nhạc – hoạ. Bức tranh thả diều còn  có hai dị bản khác, một bức có chữ  “Ṿũ thu phong nhất dực” (gió thu múa, một cánh) bức kia có chữ “Nhất tương phúc lộc điền” (một hạnh phúc của nhà nông) – cũng thú vị không kém.

Cũng về con trâu, còn có bức em bé chăn trâu  với chữ “Như quải giác” (gác lên sừng), bức tranh nói lên tính hiếu học của trẻ em nông thôn.

Như quải giác

Xưa, nhà nho thường có những thú vui thanh tịnh trong lúc nhàn tản, “Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”, ở tranh Cá chép ngắm trăng , ta thấy thấp thoáng  hình ảnh của  các nho sỹ ẩn dật, không màng công danh phú quý, trở về với thiên nhiên. Đây là bức tranh duy nhất của Đông Hồ có đề năm sáng tác: “Giáp Tuất niên tạo” (1943), bên kia là chữ “Lý ngư vọng nguyệt”images (1)

(Hàng Trống cũng có tranh này, nhưng phong cách khác hẳn, tranh không mộc mạc, dân dã mà vẽ rất chau chuốt, tả từng cái vẩy cá; cùng đôi với cá chép là con công đang múa, cũng vẽ kỹ như cá chép).images (2)

Có tác giả còn đưa được ước vọng lớn của cả nhân loại lên tranh, đó là bức vẽ hai con công đang múa , một bên có chữ “Thiên hạ thái bình”, bên kia là “Quốc gia thịnh trị”

Quốc gia

Đề tài các em bé và các con vật có rất nhiều tranh.

Đôi tranh Em bé ôm gà, ôm ngan : Nhìn khuôn mặt bầu bĩnh, rạng rỡ của các em bé và con gà, con ngan béo mập – người xem đã hình dung ra cảnh đươc mùa, thóc đầy bồ, gà đầy sân của nhà nông. Mong tăng thêm hạnh phúc cho họ, tác giả đề chữ: Vinh hoa, phú quý. Bé trai ôm con gà, bên cạnh là những bông cúc (kê – cúc) – ước nguyện  một tương lai vinh hiển sẽ đến; bé gái ôm vịt, bên những bông hoa sen (liên – áp) – tượng trưng sự trong trắng, thanh cao.

vinh_hoaPhú quí

Lại có: Em bé ôm cá, ôm tôm ; Em bé cầm quả phật thủ, quả đào  (có bản ghi chữ “Chiêu tài tấn bảo, Tích ngọc đôi kim”); Em bé ôm cóc, ôm rùa – có chữ “Nhân nghĩa, lễ trí ”; Các em bé chơi chim, chơi cá vàng.9 8

Cũng về các em bé, đôi tranh sau đây còn ít bạn đọc biết tới,nó được sáng tác trong thời kì tranh in nét, tô màu phẩm: Một bé gái không mặc quần áo, ôm quả bưởi, ngồi trong chiếc thúng – rất kín đáo. Một bé trai mặc yếm, ngồi trên tàu lá – hở hang quá. Còn đây là đôi câu đối trên tranh: “Chị cả vẫn vốn giầu – Anh chiêu dòng thế đại”. Bạn hãy đọc kiểu Trạng Quỳnh thử xem! … Đôi tranh này có dị bản khác, ghi dòng chữ: “Trai tài ôm cóc tía, gái sắc bế cầu xanh”.DSC00412DSC00411

The Best of Debussy

http://www.youtube.com/watch?v=OUx6ZY60uiI

CON GÁI, CON TRAI

Phạm Hồng Việt

( 11C 2008)

Con gái bây giờ thật chanh chua

Mồm năm miệng bảy chứ không vừa

Con trai hiền lắm không lại được

Cãi nhau, thôi cứ là nhận thua

images

 

Con gái bây giờ chỉ sành ăn

Nhìn thấy bạn trai là đòi măm

Con trai tiền ít khôngdám nhận

Liền bị bẻ giò làm que tăm

Con gái bây giờ khó hiểu ghê

Động một tí thôi đã khóc nhè

Báo hai con trai dỗ dành mãi

Ô mai, bánh ngọt lại cốc chè

Con gáibây giờ lại hay kiêu

Nũng nịu làm cao để được chiều

Con trai thật thà nên mắc lỡm

Bởi vì lầm tưởng là đươc yêu

Con gái tuy mang nhiều nét xấu

Nhưng đó chỉ là vụn vặt thôi

Con gái dù sao vẫn rất đẹp

Dù sao vẫn đẹpnhất trên đời

Con gái , con trai chuyện rất dài

Nếumà kể hết đến sáng mai

Thế giớ ra sao nếu thiếu một

Không thể nào đâu phải đủ hai.

KFC

20130807_144231

 

Thank KFC

THƯỞNG NGOẠN TRANH ĐÔNG HỒ (số 12)

Chương năm  

Nội dung và nghệ thuật của tranh Đông Hồ

I.  Tranh về cuộc sống đời thường

Trong cuộc sống ở nông thôn thời xưa, gà và lợn là hai con vật không chỉ gần gũi, quen thuộc hàng ngày. Như trên đã nói tới những hội thi nuôi lợn thờ, gà béo ở Kinh Bắc,   những con gà, con lợn mang lại giải cho chủ nhân của nó, chắc hẳn rất béo, rất đẹp, nhưng các nghệ nhân làng Hồ vẽ chúng vào tranh không để nguyên như nó vốn có. Bằng những màu sắc, đường nét dân dã nhưng mang tính ước lệ cao, những con gà, con lợn trên tranh Đông Hồ đã cõng trên lưng mình cả một bầu tâm tư, khát vọng của những người nông dân thuở trước.

Tranh lợn  có:  Lợn đàn , Lợn ăn cám, Lợn ăn cây dáy – tất cả đều béo mũm mĩm  – “mõm gầu giai, tai lá mít, đít lồng bàn”. Dù thời gian trôi đi, các bản khắc có thể mòn, sứt nét, hỏng – nhiều nghệ nhân đă khắc những bản mới, có thể  thay đổi đôi chút – nhưng một điểm bất biến ở tranh lợn là: Trên mỗi con đều có hai cái khoáy đựơc thể hiện bằng biểu tượng  âm dương. Lợn đàn – biểu hiện sự sinh sôi nảy nở – phản ánh tín ngưỡng phồn thực, lợn ăn cám – “nhất khoảnh anh hùng”, lợn ăn lá dáy – quy luật sinh tồn, tất thảy đều hoà hợp âm dương – đó là quy luật của cuộc sống.

a

lo dan

DSC00394

Lợn độc phải

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lon an day

Lợn ăn dáy phải

 

 

 

 

 

Đông Hồ có nhiều loại tranh gà:

Gà mẹ con : Gà mẹ và mười chú gà con được bố cục gọn ghẽ trong một hình chữ nhật nằm ngang, mỗi chú gà con một vẻ, con nào cũng nghịch- đang rỉa lông rỉa cánh hay đang nghỉ ngơi trên lưng mẹ – bỗng dỏng cổ sau tiếng cục cục của gà mẹ,  hướng về phía con mồi của mẹ. Cái “động” của gà con kết hợp với cái “tĩnh” của gà mẹ, lại đặt trong cái tĩnh của hình chữ nhật. “Động” biểu thị  cho “dương”, “Tĩnh” biểu thị cho “âm”. Tông màu nóng (đỏ, vàng) là chủ đạo, khiến cho đàn gà thêm rực rỡ trong bầu trời tràn ngập nắng. Cũng như tranh lợn đàn, bức tranh này biểu trưng cho mong ước của người nông dân: “con đàn cháu đống”, gia đình đông vui, hạnh phúc.

Ga me con 2

 

Theo lý thuyết, ngôn ngữ của hội hoạ là đường nét và màu sắc, tuy nhiên, hội hoạ hiện đại – nhất là tranh trừu tượng, nhiều khi không có đường nét nào, không có hình thù gì, thậm chí màu sắc cũng chỉ là tối thiểu. (ấy là chưa kể tới nghệ thuật Sắp đặt -instalation  – được coi là con đẻ của nghệ thuật tạo hình – đang thịnh hành ngày nay). Hội hoạ cổ phương Đông thì trái lại, ngoài đường nét, màu sắc, còn có cả chữ – hơn thế nữa còn có loại “tranh” chỉ có chữ, gọi là “Tự hoạ”, lối vẽ tranh này gọi là “Thư pháp”. Chữ giúp người xem hiểu ý đồ của tác giả hơn, chữ bổ xung thêm thông tin cho bức tranh, chữ là những lời bình luận về bức tranh, những lời chúc tụng cho chủ nhân bức tranh v.v… Chữ trong tranh có thể là thơ, là câu đối, tục ngữ, phương ngôn, hay có thể chỉ là một câu nói thường ngày – nhưng ý nghĩa lại rất rộng, rất sâu.

DSC00438 Nghinh xuân

 

 

Tranh Gà Đại cát nghinh xuân  (đón xuân tốt lành): Hai chú gà trống đối xứng nhau, hình thể, lông cánh, lông đuôi mang tính ước lệ hơn là tả thực. Chữ đại cát được tác giả đưa vào tranh đã đúc kết mong ước từ ngàn năm và cũng là mong ước hàng ngày  của mọi người nông dân. Người nông dân trồng lúa nước chỉ mong mưa thuận gió hoà; chăn nuôi thì chỉ mong các con vật hay ăn chóng lớn, cuộc đời chỉ mong khoẻ mạnh, con đàn cháu đống v.v… tất cả đều là những ước mơ giản dị –  điều lành lớn. Đôi tranh này có bố cục khác hẳn tất cả các tranh còn lại. Trong những tranh khác, chữ – tuy cũng là một phần trong bố cục của tranh, nhưng chữ chỉ chiếm một phần nhỏ, còn ở đây chữ và các hoa văn trang trí chiếm nửa bức tranh – tác giả đã nhấn mạnh ước vọng của người nông dân – đồng thời đó cũng là lời chúc tụng trong dịp xuân mới.

 

ga_da_xuongNhật minh tam tac thụy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gà dạ xướng, nhật minh : Một chú gà trống đứng co một chân (Kim kê độc lập – tư thế giống gà đại cát), mào, cánh, đuôi, lông mã  được cách điệu rất đẹp. Trên tranh có chữ “Dạ xướng ng̣ũ canh hoà” (Đêm gáy năm canh đều đặn). Vế kia của tranh, vẫn chú gà đó quay trở lại, và dòng chữ “Nhật minh tam tác thuỵ” (Ngày mang tới ba điều lành). Theo quan niệm xưa, tiếng gà gáy xua tan tà ma, quỷ quái, mang tới may mắn. (Hai tranh này – gà đại cát và gà dạ xướng, thường được sử dụng làm “vi nhét” của sách báo).

Kê cúc trái

Kê cúc phải

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kê cúc   (gà trống  bên cây cúc): Chú gà hùng dũng, một chân gân guốc xoạc ra, chân kia bám vào tảng đá, vươn mình lên như sắp gáy- mà cũng như sắp bước vào một trận quyết chiến. Nói theo cách của hội hoạ hiện đại, bức tranh này sử dụng bảng màu “tương túc” (tương phản và bổ túc). Hai màu tương phản: đỏ – xanh (tuy đỏ đã ngả nâu) và màu trung gian: vàng. Những chiếc lông cánh, lông đuôi của con gà: xanh – vàng – đỏ, rồi xanh – đỏ – vàng, có chỗ lại: xanh – đỏ – xanh  cùng những mảng vàng lớn – khiến cho thị giác người xem bị cuốn hút mạnh mẽ, chỉ có ba màu mà ta cảm thấy màu sắc như trùng trùng điệp – ấn tượng rất mạnh.

Theo các nghệ nhân cao tuổi, hình ảnh gà trống oai phong, hùng dũng tượng trưng năm đức tính của  người đàn ông: Văn, võ, dũng nhân, tín.

– Cái mào đỏ tựa như chiếc mũ cánh chuồn – tượng trưng cho Văn.

– Chân gà có cựa sắc nhọn như kiếm, dùng để  chọi – tượng trưng cho Ṿõ.

– Thấy địch thủ, gà trống dũng cảm xông vào, chiến đấu đến cùng – biểu thị của Dũng.

– Kiếm được mồi cùng gọi nhau ăn – biểu thị của  Nhân.

– Hàng ngày gà gáy sang canh không bao giờ sai, nó đánh thức  mọi người dạy đúng giờ – biểu thịcủa  Tín.

Trên tranh  không có chữ gì nhưng một bài thơ vịnh chú gà này của nghệ nhân Hiền Năng lại được truyền tụng. Bài thơ có tám câu mà đã sử dụng tới bốn câu phương ngôn về con gà:

Gà trống

Xưa vốn cùng chung một mẹ mà

Khôn ngoan đá đáp với người ta

Gáy lên bạn hỡi xem trời sáng

Báo để người nghe tỉnh giấc ra

Rõ vẻ giống tông đầu mỏ thế

Lẽ đâu ăn quẩn cối xay nhà

Mặc ai vờ vịt trông ra quốc

Thực giống Hồ đây chẳng phải pha.

Ga thu hung

Các cụ kể lại, năm ấy (khoảng 1915) cụ Chánh Hoàn gả con gái cho anh Phán Vinh, cụ Đám Giác đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: Gà thư hùng : một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con. Trên tranh có dòng chữ nôm “lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông”- một lời chúc thật sâu sắc! (Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh). Gà mái có bố cục theo Đường xoắn ốc – tạo nên sự nũng nịu. Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên – tạo nên tư thế  chủ gia đình,  che trở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc , đầm ấm trong một gia đình.

Phùng Hồng Kổn