Về những bức tranh ngũ hổ

https://drive.google.com/file/d/0B6GD8fbjkTSpWlpXRTBRSGhoT28/view

Tìm hiểu qui trình làm tranh Đông Hồ

Phùng Hồng Kổn

Ga thu hung

Gà thư hùng

   Những bức tranh Gà, Lợn, Hứng dừa, Đánh ghen… mộc mạc, dân dã mà cuốn hút, níu kéo, đã tạo thi hứng cho nhà thơ Hoàng Cầm viết câu thơ nổi tiếng : «Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong. Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp… ». Đã từ lâu, câu hỏi : « Các nghệ nhân Đông Hồ đã làm tờ tranh điệp như thế nào » luôn trăn trở với người yêu tranh. Dưới đây là những  chia sẻ cùng bạn đọc qui trình làm tranh Đông Hồ với các công đoạn: ra mẫu, cắt ván, chuẩn bị nguyên vật liệu và in tranh.

1. Ra mẫu

Đây là công việc của nghệ  nhân sáng tác. Từ xưa đến nay, bao giờ cũng vậy, trong làng chỉ có một vài nghệ nhân ra mẫu. Nghề làm tranh là nghề của cả làng, ông thợ cày, bà thợ cấy, các em thiếu nhi, các cụ già – đều biết làm tranh, nhưng là làm những việc như in, quét điệp, hay nhặt nhạnh, phơi phóng – chứ không thể sáng tác. Một điều cần nhấn mạnh là cùng được gọi là Nghệ nhân, nhưng nghệ  nhân sáng tác thì khác xa nghệ nhân cắt ván và lại càng xa hơn nghệ nhân chỉ biết in tranh (cũng có những nghệ nhân làm được tất cả các việc). Các nghệ nhân sáng tác thường là những nhà nho có học, am hiểu văn hoá, lịch sử, xã hội, có tài quan sát, có khiếu thẩm mỹ… Chính vì thế, tranh Đông Hồ có nội dung rất phong phú, không chỉ thể hiện cảnh sinh hoạt ở nông thôn  hiện tại  mà  còn có nhiều tranh về lịch sử, về tôn giáo và có nhiều tranh mang tính triết lý sâu sắc. Trên tranh  thường có chữ Hán, chữ Nôm, sau này có cả chữ quốc ngữ. Giống với các loại hình văn hoá dân gian khác, tranh Đông Hồ cũng do các nghệ nhân không được đào tạo qua trường lớp sáng tạo nên. Lúc đầu mỗi bức tranh  chỉ do một nghệ nhân vẽ mẫu, sau khi vẽ, nghệ nhân có thể treo tranh lên vách để mọi người cùng xem và góp ý, cho dù nghệ nhân có sửa tranh theo sự góp ý nào đó – thì cũng không thể coi bức tranh đó là sáng tác tập thể được. Thực tế thì tác giả đã nghiền ngẫm rất kỹ, nếu có thay đổi chút ít thì thường cũng từ ý kiến của một ông bạn nhà nho tâm đắc. Thế nhưng, thời xưa ở ta chưa có khái niệm bản quyền, những tranh mới  mà bán chạy, lập tức nhà khác “xin “ mẫu ngay. Khi cắt ván, nghệ nhân điêu khắc  có thể làm thay đổi chút ít – làm tranh khác với nguyên mẫu. Hoặc thời gian trôi qua, các thế hệ sau thêm chữ (hay bớt chữ), hay thay chữ nho bằng chữ quốc ngữ (hoặc ngược lại), vì những lẽ đó  ta thường bắt gặp cùng một tranh có nhiều dị bản.

Có một điều đặc biệt là vào thời kì chưa xa lắm, trong số các nghệ nhân sáng tác nổi tiếng, còn được lưu danh đến ngày nay, không có ai là nông dân theo đúng với nghĩa của từ này. Họ ở nông thôn nhưng không biết cầy cấy, lúc nhỏ tuổi thì đi học, học qua tuổi thanh niên, không đi thi, hay thi không đỗ về nhà dạy học, vẽ tranh, sau này thì vẽ thêm hàng mã. Đó là các nghệ nhân: Nguyễn Thể Thức (1882 – 1943), Vương Chí Long (1887 – 1944 – còn gọi là cụ đồ Long),  Nguyễn Thể Lãm (1910 – 1978), Phùng Đình Năng (1912 – 1993), Vương Chí Lương (1916 – 1946).

Xưa các cụ sáng tác tranh thường có đôi – như đôi câu đối. Có bốn kiểu đôi tranh: Kiểu thứ nhất: Hai tranh hoàn toàn đối xứng nhau (đối xứng trục), chẳng hạn hai con lợn châu đầu vào nhau. Kiểu thứ hai: Hai tranh cũng đối xứng trục nhưng trên mỗi tranh có chữ khác nhau. Chẳng hạn tranh “Tiến tài”  – có đôi của nó là “Tiến lộc”. (Hai vị thần đối xứng nhau nhưng chữ trên mỗi tranh khác nhau). Kiểu thứ ba: Sự đối xứng không còn thực hiện nghiêm ngặt nữa, đối ý là chính. Chẳng hạn, em bé ôm gà và em bé ôm vịt (phú quí, vinh hoa), hay em bé cầm quả đào và em bé cầm quả phật thủ. Kiểu thứ tư: Chỉ đối ý, loại này nhiều tranh nhất: Hứng dừa – đánh ghen, Đu đôi – bắt trạch, Trưng Vương khởi nghĩa – Triệu Ẩu xuất quân, Trai tứ khoái – gái bảy nghề v.v… Đôi khi hai tranh đối xứng được vẽ thành một – như “Phúc lộc song toàn” hay “Lý ngư  vọng nguyệt”.

Lúc ra mẫu, đầu tiên các nghệ nhân vẽ phác  lên  giấy dày, sửa chữa đến khi ưng ý thì can lên một tờ giấy dó loại rất mỏng. Có một số tranh  tác giả lật mặt sau lên, tô lại,  được một đôi tranh đối xứng nhau. Nếu thi hứng dâng trào thì tác giả lại viết  thêm chữ hoặc câu đối lên tranh. Nghệ nhân vẽ mẫu thường cũng hay vẽ tranh chơi (vẽ trực tiếp, không phải in). Tranh mẫu để cắt ván khác hẳn tranh vẽ chơi ở chỗ: đường nét đơn giản, rõ ràng, không quá nhiều chi tiết gây rối và khó cắt ván, tranh in ra không đẹp.

2. Cắt ván  (đúng nghĩa là « khắc ván » nhưng người Đông Hồ quen gọi là « cắt ván »)

Số nghệ nhân cắt ván không nhiều lắm nhưng đông hơn số nghệ nhân sáng tác. Trước  hết họ làm một tấm gỗ thật phẳng. Gỗ thị, gỗ mực thường làm ván nét (nét đanh, bền lâu), gỗ vàng tâm làm ván màu (mảng to hơn, không cần phải “đanh” lắm, mà gỗ vàng tâm mềm hơn, dễ khắc). Sau đó quét hồ lên, dán úp tờ mẫu vào, quét lại  một lượt bằng “thét” (một loại chổi thông sẽ nói ở phần sau) không có hồ, toàn bộ mẫu tranh đã hiện lên mặt sau tờ tranh. Khắc xong, khi in ra tranh sẽ giống như tờ mẫu, (nếu dán ngửa tờ mẫu vào rồi khắc, tranh in ra sẽ ngược với mẫu, chữ không đọc được). Nghệ nhân cắt ván có bộ đồ nghề như của thợ mộc, nhưng nhỏ hơn, sắc bén hơn. Họ đục nét  trước rồi “dãy” mảng sau, cứ như vậy cho đến khi hoàn thành bản đầu tiên gọi là ván nét. Nét khắc trên ván này thường to đậm, sâu và đứng thành.

Tiếp đến  là việc phân màu, công đoạn này nghệ nhân cắt ván  kết hợp với nghệ nhân ra mẫu cùng làm. Họ in ra một bản nét, dùng bút lông tô màu từng mảng – thường mỗi tờ tranh có từ ba đến bốn màu và đường viền (contour)  màu đen, sau đó lấy tờ giấy dó mỏng đặt lên trên, tô lại mỗi mảng màu đó một bản, rồi lại làm như với ván nét – được các ván màu. Để các ván này in ra khớp với nhau, người ta để lại ở mỗi ván hai chấm ở  bên trái, sát mép gỗ – gọi là “cữ”.

Đến thời kỳ tranh bộ, mỗi bộ có bốn tờ dài, mỗi tờ có khi phải làm ba, bốn ván in như vậy mỗi bộ tranh có thể có 16 ván. Còn có một loại gọi là tranh chủ (vẽ các đồ thờ cúng – dùng để dán lên bàn thờ), gồm một tờ to, kích thước khoảng 80 x 120 cm và bốn tờ nhỏ 20 x 120 cm. Bộ ván in tranh này có thể tới 24 tấm ván in.

Đầu thế kỷ XX có các nghệ nhân cắt ván giỏi còn lưu danh như: Nguyễn Đăng Tuỵ, Nguyễn Đăng Mưu, Nguyễn Thế Bân, Hà Văn Tư…

3.Chuẩn b nguyên vật liệu

  • Giấy dó
    QUET ĐIỆP

Đây là loại giấy được sản xuất bằng phương pháp thủ công từ cây dó. Nghiên cứu tại các cơ sở sản xuất giấy dó ở Việt Nam cho thấy, về cơ bản, giấy dó sản xuất thủ công, không có tác động hoá chất tạo a-xít trong giấy. Vỏ cây dó được nấu và ngâm trong nước vôi với thời gian ba tháng, bóc bỏ lần vỏ đen đi, giã bằng cối và chày rồi dùng chất nhầy từ cây mò (chi Clerodendrum) tạo hỗn hợp kết dính. Hỗn hợp này gọi là “huyền phù” mà người thợ sẽ pha với nước độ lỏng hay đặc tùy theo loại giấy. Khi seo giấy, người thợ dùng “liềm seo” (khuôn có mành trúc, nứa hay dây đồng ken dày) chao đi chao lại trong bể bột dó. Lớp bột dó trên liềm chính là tờ giấy dó sau khi kết thúc công đoạn ép, phơi, sấy, nén hay cán phẳng. Xơ dó kết lại với nhau, như cái mạng nhện nhiều lớp, tạo nên tờ giấy dó. Sự kết mạng như vậy đã làm cho tờ giấy xốp, nhẹ. Sau cùng là phơi hoặc sấy. Các công cụ sản xuất hầu như bằng tre, gỗ và dùng ánh sáng tự nhiên để làm khô giấy. Giấy dó được sản xuất theo quy trình này không có độ a-xít dẫn đến tuổi thọ cao. Một số tài liệu cho rằng giấy dó có độ tuổi thọ tới 500 năm.

Giấy dó có nhiều loại từ rất mỏng đến rất dầy, gọi là bóc một, bóc đôi, bóc ba v.v… Đông Hồ không làm giấy này mà mua ở Đống Cao – huyện Yên Phong cùng tỉnh hoặc làng Hồ Khẩu- ven Hồ Tây Hà Nội. Giấy để in tranh thường người ta chọn loại bóc ba hoặc bóc tư – không dầy quá, cũng không mỏng quá. Thời xưa giấy dó thường có khổ khoảng 25 x 70 cm, các nghệ nhân Đông Hồ  chia tranh thành ba loại theo khổ giấy:

– Tranh phá đôi: Tờ giấy dó pha đôi, kích thước khoảng 25 x 35 cm.

– Tranh phá ba: Tờ giấy dó pha ba, kích thước khoảng 25 x 23 cm – còn gọi là tranh vuông.

– Tranh phá tư: Tờ giấy dó pha tư, kích thước khoảng 25 x 17 cm – còn gọi là tranh lá mít.

Việc rọc giấy được thực hiện bằng thanh nứa hoặc dao cùn làm các mép giấy xơ ra cho thêm phần dân dã.

  • Điệp

Ở vùng biển Quảng Ninh  có một loài nhuyễn thể, màu trắng gọi là con điệp. Người Đông Hồ mua vỏ điệp – đã vôi hoá qua thời gian, đổ từng đống lớn ở sân, lấy bùn trát ra ngoài, ủ độ một hai năm thì lấy ra cho vào cối giã nhỏ, dần kỹ, loại bỏ những mảnh to, cứng rồi cho vào bể ngâm vài ngày, lọc một lần nữa rồi bỏ ra đạp bằng chân  hoặc cho vào cối lấy chày xoáy – chứ không giã, gọi là “lèn điệp”. Đến khi điệp quánh lại  thì nắm thành từng nắm to bằng vốc tay, phơi thật khô rồi cất đi dùng dần. Khi làm người ta tán nhỏ ra, trộn với hồ nếp và màu, quét lên giấy dó, được một màu nền lấp lánh vảy điệp.

  • Những màu thiên nhiênĐIỆP, HOA HÒE, ĐẤT ĐỎ

– Màu xanh: Vùng đồng bào dân tộc Tày, Nùng có cây Chàm vẫn để nhuộm vải, người Đông Hồ mua về, bỏ vào chum, vại ngâm từ vài tháng đến một năm, lọc bỏ cặn, được thứ bột  dẻo quánh màu xanh lá cây già. Đó chính là cây chàm mèo hoặc chàm lá to có tên khoa học là Strobilanthes Cusia. Đây là loài cây nhỏ lưu niên, hoa mọc so le hay mọc đối, tràng hoa màu lam đến tím. Không chỉ có công dụng nhuộm vải, cây chàm còn là một cây thuốc quý dùng trong nhiều bài thuốc Đông y. Khi cây chàm đã lên xanh tốt, lá được hái, bỏ vào thùng nước, ngâm cho đến khi mục rữa. Sau đó xương lá chàm được vớt ra, nước trong thùng được quấy lên đến khi sóng sánh màu xanh rồi chờ tinh bột lắng xuống thì gạn ra đem phơi khô và cắt thành miếng cho tiện dùng. Khi nhuộm chàm, thợ nhuộm lấy tinh bột chàm (đã phơi khô) hoà với nước. Tạp chất này tạo ra một loại vi khuẩn tựa như dấm thanh, để tinh bột chàm “cắn” vào vải làm nên màu bền lâu phai.

– Màu đỏ đất:  được lấy từ  đất đỏ (dạng đá ong non) ở vùng trung du Gia Lương, Quế Võ. Loại này phải ngâm kỹ hơn, có khi tới vài năm, màu đỏ ngả nâu.

– Màu đỏ vang: Gỗ vang được trẻ nhỏ, đun kỹ, gạn lấy nước đặc được màu đỏ tươi hơn đỏ đất. Tô mộc, còn có các tên gọi khác là vang, tô phượng, vang nhuộm, co vang, mạy vang (tên khoa học: Caesalpinia sappan), là một loài thực vật thân gỗ nhỏ, cao khoảng 5-10 mét, cho gỗ rất rắn, có màu đỏ nâu ở phần lõi và trắng ở phần ngoài, được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á. Gỗ này trong tiếng Anh gọi là Brezel wood. Gỗ tô mộc đã từng là một trong các mặt hàng chủ yếu trong buôn bán giữa người Nhật Bản và người khu vực Đông Nam Á (đặc biệt là Thái Lan) trong thế kỷ XVII trên các “chu ấn thuyền”. Nó cũng là nguồn có giá trị để sản xuất một loại thuốc nhuộm có màu đỏ, được dùng để nhuộm các sản phẩm từ sợi bông. Tại Việt Nam, gỗ tô mộc còn là một trong những thành phần dùng để nấu nước rửa hài cốt khi cải táng. Phần lõi gỗ rắn, gần như không bị nứt nẻ và được sử dụng để chạm khắc đồ mỹ nghệ.

Thân cây vang cong queo như như con cò quăm, người làng vẫn truyền nhau câu ca về việc nấu gỗ vang:

Cò quăm mà ở trên rừng

Đem về nấu nướng tưng bừng suốt đêm

Hết nước thì lại đổ thêm

Một trăm gánh nước không mềm cò quăm.

Màu vàng  được chế từ  hoa hoè. Đó là một loại hoa nhỏ li ti như hạt gạo, đông y vẫn dùng làm nước giải nhiệt. Hoa hoè được cho vào chảo rang  đến màu vàng nâu thì cho vào nồi nước đun thật kỹ ta có  màu vàng. Sau này người ta còn dùng thêm củ nghệ và  hoa giành giành làm màu vàng.

– Màu đen: Mùa lá tre rụng, các cụ già, trẻ em quét vườn quanh năm, đổ ở sân đống lá tre to như đống rơm. Người ta đốt lá tre – và cũng có khi đốt rơm nếp – đủ độ thành than (nếu quá một tí sẽ thành tro không có màu), được đến đâu vẩy nước đến đấy, rồi cho vào chum nước ngâm đến tận tháng bảy năm sau mới dùng được.

Từ các màu kể trên pha với điệp và pha lẫn nhau (theo tỉ lệ hoàn toàn do kinh nghiệm của nghệ nhân) được một bảng màu đa dạng mà mộc mạc, dân dã được gọi là Thuốc cái.

Theo nghệ nhân Trần Nhật Tấn, một số màu khác được tạo ra như sau:

– Màu đỏ vang pha thêm phèn chua tạo ra đỏ tía, nếu thêm hòe thì thành màu da cam, thêm điệp thì thành màu cánh sen nhạt (không thẫm như phẩm cánh sen) còn thêm chàm thì tạo ra màu nhiễu tím.

– Màu xanh chàm thêm nhựa thông tạo ra màu cẩm thạch, thêm vàng hòe tạo ra màu hoa lý.

– Màu da người được pha từ Hoàng đan (một vị thuốc bắc) và điệp.

Lý thuyết thì như vậy, thực tế thì không phải ai cũng áp dụng được, màu đẹp hay không còn do “bàn tay vàng” của người nghệ nhân.

Tất cả các màu khi dùng làm tranh đều phải pha với hồ nếp – thứ hồ xay từ gạo nếp, ngâm vài ngày, mỗi ngày thay nước một lần, không để hồ lên men. Pha màu với hồ phải do người có kinh nghiệm làm, không có công thức nào cố định, tuỳ theo thời tiết mà gia giảm, vừa độ thì in sẽ bắt ván, đặc quá hay loãng quá đều bị bong điệp.

Thời kỳ làm tranh tô màu, Đông Hồ dùng phẩm với bảng màu như sau:

– Màu đỏ có: son, điều, cánh quế (sắc độ thẫm dần) và cánh sen.

– Màu vàng có: Vàng đất, vàng chanh.

– Màu xanh có: xanh lục, xanh lam, hồ thuỷ (da trời).

– Màu hoa hiên.

– Màu tím.

– Màu đen được chế từ muội cao su (người làng thường gọi là “loa”, gốc tiếng Pháp noir  nghĩa là đen).

Ngoài ra các nghệ nhân còn pha xanh lục với vàng được màu hoa lý. Khi vẽ tranh thờ thì dùng thêm kim nhũ và ngân nhũ.

  • Các dụng cụ in tranh

– Thét: Đó là một loại chổi làm bằng lá thông phơi héo vừa phải, một đầu buộc túm lại, ở giữa được nẹp bằng hai thanh tre cho đầu kia tòe ra. Thét dùng để quét điệp làm nền, phết màu khi in, nó thay cho bút bẹt và cũng có đủ các cỡ  từ  5cm đến 25cm. Thét đựơc  làm ở làng Đạo Tú (cùng xã Song Hồ) là chính. Khi mua về người ta phải luộc thét bằng nước pha muối, rồi lấy dùi đục đập phần đầu cho mềm ra – nhưng cũng không quá lướt sao cho  khi quét nền còn để lại vết  trên điệp và những vẩy điệp lấp lánh – đó là nét đặc sắc của tranh Đông Hồ.

– Bìa: Đây là một cái hộp bằng gỗ, không có nắp, kích thước khoảng 40 x 60 x 15 cm, bên trong nhồi rơm, phía trên căng tấm vải bố. Khi in tranh người ta dùng thét  phết màu lên bìa, rập ván in vào rồi in ra giấy.

Ngoài ra còn các dụng cụ khác như chậu sành đựng phẩm, xơ mướp để xoa vào lưng tranh khi in, sào tre, nứa để phơi tranh…

4. In tranh

  • Tranh ĐiệpIN TRANH

Sau khi có đầy đủ nguyên vật liệu, ông chủ – thường là người có nhiều kinh nghiệm nhất trong nghề – bắt đầu pha màu.  Nếu trong nhà có nhiều người làm được thì có thể pha vài màu cho vài người in cùng một lúc. Người in để một đống giấy đã quét nền, xếp ngay ngắn trước mặt là bìa, chậu màu, thét, còn ván in thì xếp bên phải tay. Trước tiên dùng thét quét màu lên bìa, sau đó rập ván in lên bìa vài lần (ván in đã được đóng “tay cầm” chắc chắn), đặt ván in lên giấy theo cữ, tay trái luồn xuống dưới  tờ giấy lật cả giấy lẫn ván lên  rồi dùng xơ mướp xoa lên phía sau tờ giấy để màu bắt đều nét, cuối cùng bóc tờ tranh ra bỏ sang bên trái, các tờ in sau để so le với tờ trước. Cứ như vậy cho đến đủ các màu, màu đen – tức là ván nét được in cuối cùng và do người khéo tay nhất thực hiện.  Yêu cầu màu vừa đủ, đặt ván chính xác, xoa đều tay. Nếu màu khan quá  hoặc xoa ẩu sẽ mất nét, nếu  màu nhiều quá (các cụ nói là bị sặc màu) hoặc đặt không đúng cữ, thì tranh  sẽ bị nhòe nhoẹt – cả hai trường hợp tranh đều xấu. Cùng một mẫu tranh do một nghệ nhân sáng tác, khi cắt ván – nhiều nhà cùng cắt – đã có thể tạo ra những tranh khác nhau. Khi in, mỗi nhà lại phân màu khác nhau, cộng với tay  nghề khác nhau nên có thể tạo ra những bức tranh khác nhau. Cùng tranh một con gà có khi rất đẹp mà cũng có khi lem nhem xấu xí. Kỹ thuật in như trên rất giống kỹ thuật in tranh khắc gỗ màu Nhật Bản. ở Nhật Bản gọi các bản in màu là bản vỗ, phương pháp in được gọi là so dấu – cũng đánh dấu như “cữ” của tranh Đông Hồ. Các bản vỗ được lăn mực chứ không dập lên bìa như Đông Hồ. Sau khi lật ngửa ván in lên người Nhật dùng xơ gai dầu để chà xát lên lưng tranh.

  • Tranh tô màu

Loại này chỉ phải in một lần màu đen. Với những tranh khổ lớn, ván in to, dài (như tranh Tứ phủ chẳng hạn), thì không dập ván lên bìa như trên (màu không thể bắt đều vào ván – tranh sẽ mất nét) mà phải dùng thét quét mực lên ván in, rồi cũng làm như  với tranh nhỏ. Khi tranh khô và đã nén phẳng sẽ được chia cho cả nhà tô màu, trẻ con hoặc các cụ bà thì tô màu vàng – (có lấn sang mảng khác còn sửa được), những người khác tô các màu còn lại. Các kỹ thuật: vờn, điểm mắt (tô màu xong, vẽ lại mắt cho đẹp) rất tỉ mỉ. Vẽ kim nhũ, ngân nhũ (với tranh thờ), phải do người có tay nghề giỏi nhất thực hiện. Tranh bộ và tranh thờ được dán thêm hai que bằng tre, hoặc nứa vào đầu trên, đầu dưới gọi là trục – để tờ tranh cứng cáp hơn.  Tranh tô màu tận dụng nguồn lao động của cả gia đình. Màu sắc in tranh được quy định nghiêm ngặt, trẻ em khi làm thường sơ ý nên vị trí in màu bị thay đổi, nhà nào không có người chủ giỏi lại không theo dõi sát sao  thì tranh không thể đẹp được.

Bốn bước in tranh Gà dạ xướng:

GA 1

GA 2

GA 3

GA 4

 

Một thoáng Kinh Bắc

Phùng Hồng Kổn

GA 4

Dạ xướng ngũ canh hòa

           Từ Hà Nội, theo quốc lộ 5 đến Phú Thuỵ, rẽ trái, thăm chùa Keo, chùa Dâu, lại rẽ trái, tới chùa Bút Tháp, theo bờ đê, qua đền thờ và lăng Kinh Dương Vương, cuối cùng đến làng tranh Đông Hồ – thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (cả thảy chừng 35 km).Có thể xem đây là một vòng cung văn hóa Kinh Bắc.

Sử sách còn ghi lại rằng, năm 1469 vua Lê Thánh Tông cho san định bản đồ, thừa tuyên Bắc Giang đổi là trấn Kinh Bắc, khi đó trấn Kinh Bắc gồm bốn phủ: Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang và Thuận An. Phủ Thuận An có năm huyện: Gia Lâm, Lang Tài, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định. Năm 1822  trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Năm 1862, phủ Thuận An đổi là Thuận Thành. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, bỏ cấp tổng, cấp xă được mở rộng. Năm 1963, hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang sát nhập thành Hà Bắc, từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra như cũ.

Như vậy, địa danh Kinh Bắc đã có cách đây gần 600 năm và không còn trên bản đồ đă được gần 200 năm. Mặc dầu vậy, cái tên “Kinh Bắc” vẫn thường xuyên xuất hiện trên thơ văn, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng với một niềm tự hào, giống như sông Đuống trong “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm mãi “trôi đi một dòng lấp lánh” với Chợ Hồ, chợ Sủi với núi Thiên Thai, với chùa Bút Tháp……

Ghé thăm các di chỉ

Qua nhiều đợt khai quật, các nhà khảo cổ đă t́m thấy một số lượng hiện vật lớn và phong phú về chủng loại.

Ở Thiên Đức (Thái Bảo – Gia Lương) và ở Tam Giang (Yên Phong) cùng tìm thấy những chiếc rìu đá mài, có vai cân xứng màu xám và nhẵn. Những chiếc rìu này chứng tỏ kỹ thuật chế tạo đá đã rất tinh xảo.Hai  bờ sông Đuống, sông Dâu có nhiều di chỉ khảo cổ có giá trịnhư: di chỉ Đại Lai (Gia Lương) di chỉ Đồng Nội  thôn Đại Trạch xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành) có niên đại Đường Cồ, di chỉ bãi giữa sông Dâu xã Thanh Khương (Thuận Thành) có niên đại Đường Cồ sớm. Ở các di chỉ này người ta tìm thấy: rìu đá, vòng tay đá, đục đá, chày đá; rìu đồng, lao đồng, mũi tên đồng, nồi gốm, doi xe chỉ gốm, bi gốm v.v… Các di chỉ này cho thấy con người đã khai phá và chinh phục vùng Kinh Bắc từ rất sớm – ít nhất là 4000 năm trước đây.

Từ các di tích lịch sử – văn hoá

Có thể nói, trên đất nước ta không đâu có nhiều dấu son lịch sử-văn hóa hơn vùng Kinh Bắc. Riêng ở  Thuận Thành có:

– Đền và lăng Kinh Dương Vương ở làng Á Lữ xã Đại Đồng Thành.  Kinh Dương  Vương là  người sinh ra Lạc Long  Quân, Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra vua Hùng  mở đầu các triều đại ở nước ta;

– Đền và lăng Sỹ Nhiếp ở làng Tam Á xã Gia Đông, cổng đền có chữ  “Nam Giao học tổ”;

– Đền Lũng Khê và thành Luy Lâu thuộc xã Thanh Khương;

– Chùa Dâu – tên chữ là Pháp Vân tự, thuộc xã Thanh Khương. Đây được coi là cái nôi của Phật giáo Việt Nam tính  từ thế kỷ thứ III sau công nguyên. Theo “Thiền Uyển tập anh”: “Xứ Giao Châu có đường thông sang tây Trúc, Phật giáo vào Trung Quốc,chưa phổ cập đến miền Giang Đông mà nơi ấy đã xây ở Luy Lâu 20 ngọn bảo tháp, độ được 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi”.  Nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi người Tây Tạng đã trụ trì ở đây và lập nên phái Thiền Tông.Các môn đồ của ông sau trở thành những người nổi tiếng ở nước ta như: Từ Đạo Hạnh, Pháp Hiền, Vạn Hạnh…

– Chùa Bút Tháp – tên chữ là Ninh Phúc tự, thuộc xã Đình Tổ, có tháp đá cao 13m và pho tượng phật bà nghìn mắt, nghìn tay – một kiệt tác điêu khắc Phật giáo.

Huyện Từ Sơn có:

– Đền Lý bát đế  thờ tám vị vua nhà Lý bắt đầu từ Lý Thái Tổ – người dời đô từ  Hoa  Lư về Thăng Long mở đầu một thời kỳ thịnh vượng của quốc gia Đại Việt.

–  Đình Đình Bảng – một công trình kiến trúc tiêu biểu của cư dân đồng bằng Bắc Bộ với nhiều chạm khắc tuyệt tác như: Lưỡng long chầu nguyệt, Cửu long tranh châu, Lục long ngự thiên, Long vân đại hội, rồi Phượng vũ, Tứ linh, Tứ quí, Bát mã  quần phi, Sư tử hí cầu v.v…

– Chùa Phật Tích thuộc xă Phật Tích – với pho tượng đá phật Adi đà ngồi “Tĩnh toạ kiết già” và tháp Báo Nghiêm xây dựng từ năm 1692 và 31 ngọn tháp khác.

Ngoài ra văn hóa Kinh Bắc còn nổi tiếng với nhiều di tích khác như: Đền thờ Cao Lỗ ở Gia Lương, Chùa Bà Tấm ở Quế Võ, Đình Thổ Hà ở Việt Yên v.v…

Đến đèn sách, khoa bảng CHÙA BÚT THÁP

            Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, Luy Lâu (Thuận Thành) và Long Biên (Yên Phong)  thay nhau làm thủ phủ của chính quyền đô hộ. Đầu Công nguyên,  hai viên thái thú là Tích Quang và Nhâm Diên đă “Dựng học hiệu”, “Dạy lễ nghĩa”  ở Giao Chỉ và Cửu Chân. Sau đó, Sỹ Nhiếp- người nước Lỗ, đỗ Hiếu Liêm, được bổ Thượng thư lang, thời vua Hán Hiến đế, được cử sang làm thái thú Giao Chỉ (từ năm 187 đến năm 226). Sỹ Nhiếp xin vua Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu. Kế tục công việc của Tích Quang và Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của Nho học ở giao Châu như  tổ chức học hành, truyền bá chữ viết, nâng cao dân trí. Vì vậy, ông được dân phong là Nam Giao học tổ, và gọi là Sỹ Vương mặc dù ông chưa được phong vương bao giờ và ông cũng chưa từng xưng vương.

Kinh Bắc là vùng đất học, lại tiếp xúc với Nho học sớm, do đó việc học tập và thi cử ở đây  phát triển mạnh mẽ, số người đỗ đạt nhiều nhất nước.

Trong 845 năm khoa cử (1075-1919) cả nước có 187 khoa thi đại khoa (thi hội, thi đình) lấy 2991 tiến sỹ.Kinh Bắc tham dự 145 khoa, đỗ 645 tiến sỹ (chiếm gần 1/4 số tiến sỹ cuả cả nước) và số người đỗ “tam khôi” (Trạng nguyên, Bảng nhăn, Thám hoa) là 17/47.

Theo sách “Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo” do tiến sỹ Phan Hòa Phủ biên tập, học trò ông là Lễ Trai Phan Huy Sảng hiệu đính, ghi chép số người đỗ đại khoa từ năm 1075 đến năm 1788 (hết đời Lê Trung Hưng) thì Kinh Bắc đỗ được 593 người, gồm 15 trạng nguyên, 8 bảng nhãn, 23 thám hoa, 129 Hoàng giáp, 418 tiến sỹ. Trong đó Thuận An có 236 người: 6 trạng nguyên, 2 bảng nhăn, 7 thám hoa, 53 hoàng giáp, 168 tiến sỹ. Trong phủ Thuận An, riêng huyện Siêu Loại  có 36 người đỗ tiến sỹ. Dân gian có một câu: “Dốt Lạc Thổ cưỡi cổ thiên hạ” (làng Lạc Thổ xưa nằm trong tổng Đông Hồ – Thuận Thành).Câu này tuy có vẻ hơi quá lời nhưng thực tế là làng Thổ Lạc có nhiều người đỗ đạt.

Năm 1075, tại khoa thi tam trường, Lê Văn Thịnh người làng Đông Cứu huyện Gia Bình đã đỗ đầu, ông được coi là Trạng nguyên khai khoa của cả nước. Năm 1469 Thân Nhân Trung người xă Yên Ninh huyện Yên Dũng đỗ tiến sỹ, được giao khắc bia ở Văn miếu, câu văn nổi tiếng  của  ông luôn được các thế hệ ngày nay nhắc tới: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.

tran nhat tan

Nghệ nhân tranh Đông Hồ Trần Nhật Tấn

Kinh Bắc cũng là đất của hội hè, đình đám.Một số lễ hội vẫn còn đến ngày nay nhưng phần nhiều chỉ còn trong sách vở và trong kí ức những người cao tuổi ở đây. Xin được điểm danh một số lễ hội và các phong tục diễn ra trong lễ hội:

– Hội Lim với Hát quan họ đă quá quen thuộc, nay vẫn được tổ chức vào 13 tháng Giêng hằng năm;

– Hội Thi nấu cơm ở Tư Thế (Thuận Thành);

– Thi dệt vải ở Nội Duệ, Cầu Lim;

– Trò chơi Tranh cây Mộc Tất(dành cho các cụ trên 50 tuổi) ở Long Khám (Từ Sơn);

– Trò Ôm cột ở Đồng Kị (Từ Sơn);

– Thi Bơi chải ở Đại Than (Gia Lương);

– Đánh đu, kéo co thì có ở hầu khắp các hội;

– Thi hàng Mã ở Đông Hồ, Đạo Tú, Tú Khê (Thuận Thành);

– Múa rối ở Thanh Long, Đào Thị,Thịnh Lộc (Quế Võ);

– Trò Bắt vịt  dưới nước ở Đồng Kị (Từ Sơn);

– Đánh Cờ người  ởhội nào cũng có. Đấu vật có ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng nhất là các lò vật Tri Nhị, Chung Màu (Gia  Lương).

– Hội Dâu có Lễ tắm Phật  (mộc dục) nay chỉ còn lại câu ca: “Dù ai buôn bán trăm nghề/ Đến  ngày mồng tám thì về hội Dâu” ( 8/4 âm lịch).

–  Tục ca hát thờ thần mừng dân có ở hầu như đại bộ phận các hội ở Kinh Bắc. Xưa. Có những làng chuyên đi hát giữ cửa đình như Thanh Tương, Thanh Hoài (Thuận Thành), Lỗ Khê (Từ Sơn) … Cứ theo lịch, các làng vào đám mở hội là đào, kép của các làng trên lại đến hát múa gọi là:“Trước là thờ đấng thượng đẳng tối linh, sau là chúc mừng dân bình an, khang thái, sau nữa là vui xuân vui hội cầu may, cầu phúc”

–  Hội chọi gà phổ biến ở rất nhiều nơi, nhưng nổi tiếng nhất là các hội Đình Bảng (Từ Sơn),Thổ Hà (Việt Yên), Yên Phụ (Yên Phong). Hội này thu hút mọi người ưa thích chọi gà trong toàn tỉnh và cả tỉnh ngoài. Giải gà chọi chia lần lượt các thứ bậc: Nhất thắng, nhị  thắng, tam thắng. Những  con gà vào giải là những gà thuộc giống chọi được chọn kỹ từ gà bố, gà mẹ. Khi mới bóc trứng lại được khảo sát kỹ theo tiêu chuẩn nhà nghề để lọc ra nuôi riêng. Được vài ba tháng lại lọc một lần nữa và nuôi theo theo một phương pháp công phu. Đến khi gà nhú cựa đă được tập dượt từng bước theo trình độ từ thấp lên cao. Gà được chọi thử nhiều lần mới đem đến hội để chọi trong hội.

– Trò Bắt chạch trong chum diễn ra ở Phú Mẫn (Yên Phong), và ở Á Lữ (Thuận Thành).Chạch được thả vào trong chum, từ 5 đến 7 chum đặt hàng ngang ở sân đình.Muốn vào thi bắt chạch phải có hai người, một trai một gái cùng bắt chạch ở một chum. Đôi trai  gái phải ôm nhau bằng một tay, bắt chạch bằng một tay. Các cụ cho rằng như thế âm dương mới giao hòa, gió hoà mưa thuận, mùa màng tốt tươi, người vật an thịnh.

– Lễ rước ở hội đền Lý Bát Đế thời xưa. Trong lễ, nam tướng gồm144 người, mặc áo đỏ,  ống tay dài; nữ tướng gồm 18 người, đội khăn xô, quần áo màu; mỗi tướng có một lọng xanh. Hơn 100 người được chọn để cầm kích, khiêng kiệu.Người cầm kích mặc áo vàng, người khiêng kiệu mặc áo đỏ đội mũ đen. Ba người cao, đẹp, mặt mũi nghiêm trang, dáng vẻ khoan thai, cường tráng, cởi trần, đóng khố vàng, tay cầm chuỳ – tượng trưng ba tướng võ. Khi rước, tướng võ đi trước, sau đó là một trăm người cầm kích, rồi đến kiệu của Thánh mẫu có 18 nữ tướng đi phù giá, tiếp theo là kiệu của 8 vị vua, mỗi kiệu có một con ngựa và 18 nam tướng theo sau, và đi sau cùng là các vị sắc mục, hương lão áo mũ chỉnh tề. Trong đám rước, cờ, lọng, tán, quạt rực rỡ.Sênh, trống, đàn phách rộn rã, rền vang một khoảng trời.Hàng vạn người kéo ra. Kiệu các vị vua được rước từ  Đền Lý bát đế đến chùa Cổ Pháp, nghe tụng kinh một đêm, sáng hôm sau lại rước về Đền.

Hội Lim

Hội Lim

– Hội thi  Đọc mục lục ở Phù Khê (Từ Sơn) và ở Đông Hồ (Thuận Thành)là một hội thi rất độc đáo, tiếc rằng ngày nay cũng không thấy ở đâu tổ chức nữa. Mục lục ở đây là một loại văn bản viết về truyền thống tốt đẹp của làng.Cuộc thi bắt đầu vào giờ tuất.Người thi mặc lễ phục, đứng trên ghế cao có hai người hộ vệ hai bên ăn mặc chỉnh tề, cầm một ngọn nến soi lên bản mục lục viết trên lụa, treo cao.Sau mỗi câu đọc đúng và hay, sẽ có một tiếng trống, một tiếng chiêng được gõ lên y như người ta thưởng cho hát ả đào mỗi khi nghe được một câu hay. Nếu đọc sai bị trống và chiêng khua một hồi nhỏ.Khi kết thúc tốt đẹp thì ba hồi trồng, chiêng nổi lên khích lệ.Giải thưởng thường là tấm nhiễu, gói chè (ngày xưa là chè Chinh Thái)và vài loại bánh trái, hoa quả địa phương.Tổng Đông Hồ xưa có một ngôi nghè (miếu thờ thần) rất đẹp thường tổ chức các hoạt động văn hoá trong đó có thi đọc mục lục.

– Thi Nuôi gà béo ở Lạc Thổ (Thuận Thành) và Đại Bái (Gia Lương). Gà đem thi được chọn những con chân cao, mình dài, khung xương ức rộng, cổ cao, đầu to, mỏ quằm, cứng, mào săn. Gà được nuôi trong cũi, chia từng ngăn, cho ăn viên bột gạo độn cám mịn, mối trắng (nuôi bằng rơm  rạ), có con nặng tới 7, 8 kg, béo đến mức khi  bước đi hai âu cánh xệ xuống rung rung theo nhịp chân. Giống gà này gọi là gà Hồ, cùng vớigà Mía (Sơn Tây) và gà Đông Cảo (Hưng Yên) nổi tiếng khắp cả nước.

– Thi nuôi lợn thờ ở Niệm Thượng (Tiên Sơn).Từ tháng 7 năm trước, mỗi giáp phải nuôi một con – thường là lợn ỉ. Chiều tối mồng 5 tháng giêng mang ra đình làm lễ.Những “ông lợn” được chọn béo húp híp, ục ịch, da láng bóng lang hồng, nặng hàng tạ. Trưa mồng 6 là lễ chém lợn: Quan Đám làm lễ xong lấy hai con dao thờ trao cho hai thanh niên được lựa chọn trong hai giáp. Hai thanh niên này bước lên trước hương án làm lễ rồi lùi về, mỗi người đứng bên một cũi lợn. Hiệu lệnh bằng trống, chiêng vừa dứt thì các quan viên mở dải nhiễu điều phủ cũi, xua lợn ra. Mỗi thanh niên phải chém một nhát đứt đôi một con lợn, nhát chém phải cắt ngang lợn, sát hai chân trước, không được làm đứt lòng. Lợn chém xong, làm lễ rồi chia cho dân làng.

– Hội Chen ở làng Ngà (Quế Võ): Sáng ngày 6 tháng giêng, tại miếu thờ Linh Sơn Mị Nương, làng tổ chức cuộc tế. Giữa cuộc, đàn ông, từ thanh niên đến ông già  chạy xô đến chen đàn bà. Thời đó có câu ca: “Trẻ chen với trẻ, già dong với già”. Vui vẻ một lúc mọi người tập trung quanh đám tế khấn cầu: “già mạnh khoẻ, trẻ dẻo dai, của đồng làm ra, của nhà làm nên…”.Tiếp đó là một đám rước đi quanh làng, rồi lại bắt đầu cuộc chen. Lần này con gái, bà già chen con trai, ông già, chen cả người làng và cả khách đến xem hội, cứ như vậy cho đến hết rước.

Kinh Bắc còn có một loại chợ khá đăc biệt, đó là Chợ âm dương.Chợ họp lúc chạng vạng tối, lúc ấy dương chưa tắt, âm tràn sang, âm dương  có thể giao hoà.Người đi chợ chỉ mua, bán đồ vật cũ. Người bán nói giá, người mua im lặng mở xâu tiền, rút một đoạn bỏ vào tay người mua. Người mua lặng lẽ bỏ vào bị, ra về. Chợ họp rất nhanh chỉ thấy những bóng đen di chuyển nhẹ nhàng, tiếng xì xầm nho nhỏ, người ta nói là ma họp với người. Mua bán như vậy tất có người thiệt, nhưng người ta quan niệm thiệt lại là hơn vì được dịp làm phúc.Chợ âm dương có ở Chợ Dầu (Thanh Khương, Thuận Thành), Chợ Ó (Võ Cường, Thị xã Bắc Ninh), Chợ Chằm (Mão Điền, Thuận Thành),Chợ Chai, chợ Chọi, Chợ Bậu (Yên Phong).Chợ Bậu cón tục để một thau nước thử tiền.Người dân bảo nhau: Bỏ tiền vào thau, nếu là tiền “ma” thì tiềnsẽ  biến mất.

 

Văn chương dân gian

Văn chương dân gian ở Kinh Bắc đă phản ánh thực tế muôn hình muôn vẻ  của đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây.

Về truyện kể dân gian phải kể đến các truyện mang nhiều yếu tố lịch sử như truyện Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân – Âu Cơ, Mị Châu – Trọng Thuỷ; Thánh Gióng (làng Phù Đổng trước đây thuộc Tiên Sơn, từ năm 1962 mới thuộc Hà Nội); Man Nương  (hiện nay ở chùa Dâu còn giữ một bản khắc “Cổ Châu Phật bản hạnh” kể về sự tích Man Nương và chùa Dâu).Truyện  mang những yếu tố văn hóa như Trương Chi (gắn với dân ca quan họ). Truyện  Tấm Cám khi kể ở Kinh Bắc lại mang bóng dáng của  Nguyên phi Ỷ Lan.

Kinh Bắc còn nở rộ các “Làng cười” (làng kể chuyện cười) như Làng Hiên Ngang, Yên Tử ở Tiên Sơn; làng Trúc Ổ, Đông Sài ở Quế Võ; làng Đông Yên ở Yên Phong. Riêng làng Đông Yên  c̣òn có cả hội thi nói khoác…

Ca dao cũng là một thể loại phát triển mạnh mẽ  ở Kinh Bắc, trong đó nổi tiếng với những bài nói về các nghề thủ công, về làng tranh Đông Hồ. Chúng tôi xin dẫn ra hai bài làm ví dụ:

Chằm Ngâm đi bán cá con

Đông Hồ làm mã, Cầu Nôm đúc nồi

Ngăm Ngơ là đất nung vôi

Đại Toàn đan bị, Đông Côi đan giành

Đại Mão là đất cửi canh

Đông Miếu, Thuỵ Măo chạy quanh xó rừng.

 

Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về

Làng Mái có lịch có lề

Có ao tắm mát có nghề làm tranh.

Sân khấu dân gian

Loại hình sân khấu dân gian ở Kinh bắc khá phong phú. Có thể kể đến: Hát trống quân ở Thuận Thành, Gia Lương;  Hát chèo trong hội rước nước ở chùa Dạm (Quế Võ); Hát ch̀o nhà Phật (các ni sư tiến hành trong dịp tang ma, ngày xá tội vong nhân);Hát ả đào ở Lỗ Khê (Từ Sơn), ở Thanh Khương (Thuận Thành); Múa rối cạn ở Bùi Xá, Đồng Ngư (Thuận Thành); Múa rối nước ở Thịnh Lộc (Quế Võ);Hát tuồng ở Đồng Kỵ, Tam Lư, Đình Bảng, Phú Mẫn. Chính sự phong phú các loại hình sân khấu ở Kinh Bắc đã nói lên nhiều điều về sự giao lưu tiếp biến và vượt gộp trong văn hóa của người Việt.

Dòng tranh Đông Hồ

Với  nền văn hoá vật thể và phi vật thể như trên, Kinh Bắc đã sinh ra làng tranh Đông Hồ nổi tiếng. Trong ký ức những người cao tuổi, xưa, tên làng là Đông Mại, gọi nôm là làng Mái, thuộc tổng Đông Hồ, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc.  Có những bức tranh Đông Hồ như bức “Đám cưới chuột” và nhiều bức khác nữa, chỉ xem một lần đã để lại trong lòng những ấn tượng khó phải mờ. Thực không quá lời khi nói tranh Đông Hồ đã lưu giữ được nhiều nét tinh hoa của văn hoá Kinh Bắc. Dòng tranh Đông Hồ với một thứ ngôn ngữ tạo hình mộc mạc mà sâu lắng, khó lòng một thoáng lướt qua, nếu muốn tìm hiểu phải dừng chân chiêm ngưỡng và suy ngẫm.

 

 

Thơ Nguyễn viết Hoa

Viết trên chuyến tàu đi Yên Bái

Vẫn tiếng đều đều nghiến trên đường raytau hoa

Vẫn những lùm cây vụt qua ô cửa sổ

Những cánh đồng gốc rạ

Những làng quê chợt hiện ra rồi xa

Vẫn những nhà ga

Tiếng còi tàu hú dài thổn thức

Tưởng đã chôn vùi lòng vực???

Tưởng vậy thôi.

 

Mùa thu

Mùa thu

Mùa bao điều có thể

Trời xanh thế và vời vợi thếLaThu

Mây lang thang đâu chẳng tụ về

Lá xào xạc rụng, cây ngơ ngác

Hoang hoài heo may nắng ngập tràn

Lãng đãng mộng du hồn lạc bước

Vũ trụ mênh mang không chốn về.

Anh là cỏ

 

ĐÀO NAM SƠN

 

Ngày nào anh là cỏco
Xanh mướt mát triền đê
Giữ không cho nước xói
Mát chân ai chiều về

Bây giờ anh là cỏ
Xơ xác trong héo vàng
Đọng âm thầm nhúm rễ
Một chút tình đa mang

Trọn đời anh là cỏ
Uống nắng và gội sương
Hương nồng nàn khẽ tỏa
Khi nát bầm thịt xương

Em ơi anh là cỏ
Thênh thang với gió trời
Lắng hồn bao tiếng hót
Hát thầm cùng mây trôi

Biển và người

Nguyễn Viết Hoa

Biển tội nghiệp và con người  tội nghiệpBiển

Triệu năm rồi cứ quanh quẩn bên nhau

Biển cố dâng cho con sóng bạc đầu

Cố lặng lẽ cho hoàng hôn tím

Những con tàu  khát khao tình biển

Bỗng nhận ra hoang mạc giữa đại dương.

Vắng bạn

 
 
Vắng bạn

Tặng anh Phan Cung Việt

Chẳng phải sơ tình nên vắng bạn20131014_191747
Tuổi nhiều ai cũng ngại như nhau
Bước ra khỏi cửa bao lo lắng
Thèm những ngày xa chấp bể dâu
 

ĐÀO NAM SƠN

Lời bình của PHAN CUNG VIỆT

Một ngày như đã chớm nhiều sang hạ, nhận bài tứ tuyệt của nhà thơ Đào Nam Sơn, tôi bỗng cảm thấy thư thái như thể có ngon gió mát thổi vào trong lòng. Cái chất mát khác lạ, sâu hơn và kích hoạt hơn sự mát mẻ bình thường. Đương nhiên nó thuộc về ngọn gió tâm hồn, ngọn gió thơ. Đúng hơn, thuộc về thơ tứ tuyệt. Thuộc về bài thơ tứ tuyệt này.

Từ xưa bình thơ tứ tuyệt, trước sự chung đúc dồn nén sâu thẳm của thể loại này, người ta phải dựa trước vào luật thơ, như câu mở câu kết. Bài thơ Vắng Bạn của  nhà thơ Đào Nam Sơn làm mới tôi đến nỗi, tôi muốn thăng hoa trên những luật thơ ấy. Tìm thấy ở nó sức mạnh mới mẻ của chính thơ hiện đại. Và hơn thế, nó mở rộng, giao hoà, kết hợp được nhiều thi pháp khác. Bài thơ với tôi có sức chinh phục lạ lùng.

Trên đường giao lưu tình cảm và chân cảm, tứ tuyệt có thế mạnh riêng, từ xưa. Tình nặng không thể nói nhiều, nói dài. Nó sâu thẳm như sông sâu, giếng sâu. Kẻ dò được nó không dễ. Giếng thì phải nối nhiều sợi dây dài. Chất tình chất nghĩa của nó vục vào tận đáy. Với người thì đó chính là đáy lòng. Thật logic, chặt chẽ, không thể nói và bình luận cách nào khác được.

Tôi ngẫm ngợi từng câu, từng lời trong bài thơ của nhà thơ. Mỗi câu mỗi dòng thấm đượm cái duyên tứ tuyệt, cái luật tứ tuyệt. Nhưng chính mỗi câu thơ chặt đó đã tự vỗ cánh lên để chở cái tình của tác giả, để hoà vào biển tình, hoà vào dòng thơ tuôn chảy giữa thời gian. Chẳng phải sơ tình nên vắng bạn. Câu mở này lạ , mà hay. Cái trí lặn sâu vào cái tình. Người đọc không kịp bắt bẻ nó, bắt nó lí giải thế nào, vì sao. Nó mở rất thơ, rất tự tin. Nó thật thông minh. Tuổi nhiều ai cũng ngại như nhau. Câu thơ chân mộc này đã xuất hiện , nối tiếp. Nối cái tình nặng, khi vắng bạn. Cùng lí giải cái cớ cần có bài thơ. Bước ra khỏi cửa bao lo lắng. Câu thơ tự ngã này thật giản dị, thương cảm. Thiết tưởng một câu thơ khác rất khó thay vào đây. Vì nó phải liền “ mạch lòng”. Khác đi một chút, quá tỉnh một chút, là sẽ phá vỡ bài thơ chung đúc. Và câu kết này mới thật lạ, bước chân sang sự sáng tạo. Từ ngữ mới. Mạch câu mới. Thèm những ngày xa chấp bể dâu.Thú thực, tôi phục và yêu câu kết này lắm.

Đào Nam Sơn là người yêu thơ tứ tuyệt. Tứ tuyệt của Đào Nam Sơn dám định hình quy chuẩn, nhưng cũng dám làm mới. Một lần nữa thêm hiểu thơ là người. Thêm hiểu vì sao có bài thơ Vắng Bạn. Thêm hiểu cho cái tình của nhà thơ và người được vinh hạnh nhận thơ. Xin dừng để cho bài thơ nói thay. Tình bạn và tình thơ nói thay. Chỉ trong một bài tứ tuyệt VẮNG BẠN.
Đất Bắc, cuối 3.2013

theo BuiKimAnh