Đề tài khoa học

XÂY DỰNG BỘ CÔNG CỤ THU THẬP Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH

VỀ CÁC THẦY CỐ GIÁO Ở TRƯỜNG THPT

http://www.anninhthudo.vn/Xa-hoi/Hoc-sinh-danh-gia-giao-vien-Dang-de-thay-co-phai-suy-ngam/523139.antd

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/148313/-hoc-tro-cung-co-the-la—-thay-minh-.html

  Ngày 1 tháng 11 năm 2013, Hội đồng khoa học ngành giáo dục và đào tạo Hà Nội đã nghiệm thu đề tài này. Sau đây là bộ câu hỏi đã hoàn chỉnh:

images11

1. Về Kiến thức: 

     1.1.Nội dung kiến thức trong các bài

giảng của thầy (cô):

a) Cơ bản, vững chắc, có nâng cao vừa phải.

b) Cơ bản, vững chắc, không nâng cao.

c) Lướt nhanh kiến thức cơ bản, nâng cao nhiều.

d) Bỏ qua kiến thức cơ bản, nâng cao quá nhiều.

1.2. Nội dung kiến thức mà các thầy cô truyền đạt có khi nào bị sai hoặc nhầm lẫn không?

a) Không bao giờ.

b) Đôi khi nhầm lẫn.

c) Nhiều lần.

d) Thường xuyên.

   1. 3. Cách đặt câu hỏi của thầy (cô) trong bài giảng:

a) Rõ ràng mạch lạc, gợi mở.

b) Tương đối rõ ràng mạch lạc.

c) Không rõ ràng mạch lạc.

d) Lủng củng, tối nghĩa, khó hiểu.

  1.4. Khi dạy khái niệm mới (hoặc qui tắc, phương pháp, mẫu câu…), các thầy cô thường đưa ra ví dụ minh họa , các ví dụ đó:

a) Rõ ràng ,dễ hiểu, hấp dẫn.

b) Dễ hiểu

c) Hơi khó hiểu

d) Rất khó hiểu

1.5. Cách giải bài tập (với các môn tự nhiên) hoặc cách phân tích tác phẩm văn học, sự kiện lịch sử, địa lí…(với các môn xã hội) của thầy (cô) thường là:

a) Rất hay.

b) Hay.

c) Bình thường.

d) Chán.

      1.6. Nội dung đề kiểm tra của thầy (cô):

a) Kiến thức vừa phải, có phần nâng cao dành cho học sinh khá giỏi.

b) Kiến thức vừa phải, không có phần nâng cao dành cho học sinh khá giỏi

c) Kiến thức hơi dễ hoặc hơi khó.

d) Kiến thức quá dễ hoặc quá khó.

2. Về phương pháp giảng dạy:

     2.1. Giọng nói  và cách diễn đạt của thầy (cô):

a) Rõ ràng, mạch lạc, truyền cảm, hấp dẫn.

b) Tương đối rõ ràng, mạch lạc .

c) Hơi khô khan.

d) Thầy cô còn nói ngọng, nói nhịu hoặc diễn đạt lủng củng hoặc đều đều, nhạt nhẽo, gây buồn ngủ .

2.2. Cách tổ chức giờ học của thầy (cô):

a) Phong phú, đa dạng, sáng tạo.

b) Tương đối phong phú.

c) Hơi đơn điệu, thiếu sáng tạo.

d) Nhàm chán.

2.3. Thầy (cô) có thường sử dụng Phương pháp đọc chép?:

a) Rất ít (chỉ khi nào thật cần thiết).

b) Thỉnh thoảng.

c) Nhiều lần.

d) Thường xuyên.

    2.4. Thầy (cô) có thường  sử dụng đồ dùng dạy học (tranh vẽ, mô hình, dụng cụ thí  nghiệm…) hoặc ứng dụng công nghệ thông tin hay không?

a) Thường xuyên.

b) Nhiều lần .

c) Thỉnh thoảng.

d) Chưa bao giờ.

2.5. Việc  học sinh phản biện (nói ngược lại với ý của thầy (cô)) được thầy (cô):

a) Khuyến khích.

b) Cho phép.

c) Chấp nhận miễn cưỡng.

d) Không cho phép.

2.6. Sau một thời gian học thầy (cô) (có tên ở trên), bây giờ nhớ lại, bạn cảm thấy có nhiều tiết  học hấp dẫn không?

a) Rất nhiều.

b) Nhiều.

c) Ít.

d) Không có tiết nào.

3. Về nề nếp và ứng xử

    3.1.Thầy (cô) ra vào lớp :

a) Luôn đúng giờ.

b) Thỉnh thoảng không đúng giờ.

c) Nhiều lần không đúng giờ.

d) Thường xuyên không đúng giờ.

3.2. Trong giờ học của thầy (cô), ý thức học tập và kỷ luật của học sinh :

a) Rất tốt (Tập trung  học tập, sôi nổi tham gia xây dựng bài).

b) Tốt (Trật tự nghe giảng).

c) Đôi khi chưa tốt (mất trật tự, chưa chú ý nghe giảng ).

d) Thường xuyên chưa tốt (mất trật tự hoặc làm việc riêng).

        3.3. Cách ứng xử của thầy (cô) với các tình huống học sinh vi phạm kỷ luật:

a) Luôn nghiêm khắc.

b) Đôi khi hơi dễ dãi.

c) Có khi mất bình tĩnh, gây không khí căng thẳng.

d) Hay quát mắng hoặc trì triết, mỉa mai học sinh.

3.4.  Thầy cô có hay trù úm học sinh không?

a) Không bao giờ.

b) Đôi khi.

c) Nhiều lần

d) Thường xuyên.

3.5. Thầy (cô) có trả bài kiểm tra đúng qui định không? (bài 15’ trả sau 1 tuần; bài 45’ trả sau 2 tuần; bài 90’  trả sau 3 tuần):

a) Luôn luôn đúng hạn.

b) Đôi khi hơi chậm.

c) Nhiều lần chậm.

d) Cuối kì thầy cô mới trả cả thể.

3.6. Thầy (cô) cho điểm:

a) Chính xác, công bằng.

b) Đôi khi thiếu chính xác.

c) Hơi rộng hoặc hơi chặt..

d) Thiên vị, thiếu công bằng.

3.7. Thầy (cô) có lấy giờ học để làm việc khác?

a) Chỉ lấy khi thật cần thiết.

b) Thỉnh thoảng.

c) Nhiều lần.

d) Thường xuyên

3.8. Trang phục của thầy (cô) khi lên lớp:

a) Luôn luôn phù hợp (đẹp).

b) Đôi khi chưa phù hợp

c) Nhiều lần chưa phù hợp.

d) Thường xuyên không phù hợp.

 Phùng Hồng Kổn

Đề, đáp án thi học kì II 2013 (Toán 10)

ĐỀ: https://docs.google.com/file/d/0B6GD8fbjkTSpTzZ6VEtqcXV4MGc/edit?usp=sharing

ĐÁP ÁN:https://docs.google.com/file/d/0B6GD8fbjkTSpVkhoTVk1YUdlOFE/edit?usp=sharing

Đính chính

Đáp án Đề 1:

Câu 3 a): Cột tần suất sửa lại các số liệu từ trên xuống:  13,2;    23,53;   41,18;    21,57.

Đáp án Đề 2:

Câu 2b): Dòng cuối: -1/3<m<0 sửa lại là: -1/3<m<0

Câu 3 a): Cột tần suất sửa lại các số liệu từ trên xuống: 13,72;   13,72;   58,82;   13,72.

Đề thi, đáp án kì thi thử đại học năm học 2012-2013 -trường THPT Phan Đình Phùng

DE K D: https://docs.google.com/file/d/0B6GD8fbjkTSpSEM3Q3ZiYmE4UzA/edit?usp=sharing

DA KD:https://docs.google.com/file/d/0B6GD8fbjkTSpWWJaQ21NR2tsVDQ/edit?usp=sharing

DE KA: https://docs.google.com/file/d/0B6GD8fbjkTSpQzhodFE4aEtNcDg/edit?usp=sharing

DA KA: https://docs.google.com/file/d/0B6GD8fbjkTSpWWgzdlp6N1JlS3M/edit?usp=sharing

PISA

–         PISA là viết tắt của cụm từ “Programme for International Student Assessment – Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khởi xướng và chỉ đạo. Chương trình bắt đầu từ năm 2000, đến năm 2012 đã có 70 nước tham gia.

–         PISA là khảo sát giáo dục mang qui mô toàn cầu, có chu kì ba năm một lần, đánh giá năng lực học sinh ở độ tuổi 15- độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc, chuẩn bị để đáp ứng những thách thức của cuộc sống sau này.

–         PISA tập trung vào ba lĩnh vực Toán,  Khoa học, Đọc hiểu. Mỗi kì sẽ tập trung đánh giá sâu vào một lĩnh vực, năm 2012 tập trung vào Toán.

–         PISA thu thập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh ở tầm quốc tế về ba lĩnh vực trên; đề xuất những thay đổi về chính sách giáo dục cho các quốc gia.

       Năm 2012 lần đầu tiên Việt Nam tham gia PISA với mục tiêu:

–         Tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục.

–         So sánh “mặt bằng” giáo dục quốc gia với giáo dục quốc tế.

–         Góp phần Đổi mới phương pháp đánh giá, đưa ra cách tiếp cận mới về dạy, học, thi và đánh giá.

–         Chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới giáo dục sau năm 2015.

Đến thời điểm này (đầu tháng 3/2012)  OECD đã chọn 171 cơ sở giáo dục  của việt Nam – với 5400 học sinh – tham gia khảo sát chính thức, trong số đó có 35 học sinh lớp 10 Trường THPT Phan Đình Phùng. Đây là một là niềm vinh dự cho trường ta  nhưng cũng là một  trách nhiệm lớn lao vì nhiệm vụ quốc gia giao phó. Đồng thời đây cũng là một cơ hội để chúng ta tiếp cận với nền giáo dục hiện đại, những tinh hoa của giáo dục quốc tế.

Kì khảo sát chính thức sẽ diễn ra vào đầu tháng 4 năm 2012 tại trường THPT Phan Đình Phùng.

MỘT SỐ BÀI TOÁN PISA

BÀI 1: BUỔI BIỂU DIẾN NHẠC RỐC

Câu hỎi 1.  Sân khấu của một buổi biểu diễn nhạc Rock rộng 100m; 50m trước sân khấu dành cho khán giả. Buổi biểu diễn đã bán hết vé và sân tràn ngập người hâm mộ đang đứng chờ.

Số nào ước tính đúng nhất số lượng người dự buổi biểu diễn này?

  1. 2000          B. 5000         C.20000           D.50000           E.100000

BÀI 2:  NGƯỜI THỢ MỘC

cÂU HỎI 1:       Người thợ mộc có 32m gỗ làm nhà, muốn làm một hàng rào xung quanh một khu vườn. Ông đang cân nhắc giữa các thiết kế khu vườn như các hình vẽ dưới đây (nhắp chuột vào khoảng trống).

Hãy khoanh tròn “Có” hoặc “Không” ứng với mỗi thiết kế hàng rào có thể được dựng lên từ 32m gỗ xây nhà.

Thiết kế

Phương án đúng

Thiết kế A

Có  /  Không

Thiết kế B

Có  /  Không

Thiết kế C

Có  /  Không

Thiết kế D

Có  /  Không

 

BÀI 3: GIÁ SÁCH

 

cÂU HỎI 1:Để làm được một giá sách thì người thợ mộc cần các bộ phận sau:

4 tấm gỗ dài,

6 tấm gỗ ngắn,

12 cái kẹp nhỏ,

2 cái kẹp lớn và

14 ốc vít.

Người thợ mộc có 26 tấm gỗ dài, 33 tấm gỗ ngắn, 200 cái kẹp nhỏ, 20 cái kẹp lớn và 510 ốc vít.

Người thợ mộc có thể làm được bao nhiêu cái giá sách?

Đáp số: …………………..giá sách

BÀI 4: TÒA NHÀ DẠNG XOẮN

 

Trong kiến trúc hiện đại, những tòa nhà có rất nhiều hình dáng lạ. Dưới đây là hình ảnh mô phỏng trên máy tính của một “tòa nhà dạng xoắn” và cấu trúc tầng trệt của nó. Điểm la bàn là định hướng của tòa nhà.

Tầng trệt của tòa nhà gồm có lối ra vào chính và các gian hàng.

Ở phía trên tầng trệt là 20 tầng căn hộ.

Cấu trúc mỗi tầng đều tương tự như cấu trúc tầng trệt, nhưng  mỗi tầng có hướng hơi khác một chút so với hướng của tầng dưới nó. Phần trục là thang máy và khoảng không gian trống

CÂU HỎI 1.

Ước tính chiều cao của tòa nhà theo đơn vị mét. Hãy giải thích cách làm của em.

……………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………..

Các hình sau biểu diễn các góc nhìn của tòa nhà

Góc nhìn 1                                    Góc nhìn 2

Câu hỎi 2:                                                                    

Góc nhìn 1 được vẽ theo hướng nào?

A     Từ hướng Bắc

B     Từ hướng Tây

C     Từ hướng Đông

D     Từ hướng Nam

 

CÂU HỎI 3: Góc nhìn 2 được vẽ theo hướng nào?

A  Từ hướng Tây Bắc

B  Từ hướng Đông Bắc

C  Từ hướng Tây Nam

D  Từ hướng Đông Nam

 

CÂU HỎI 4: Mỗi tầng căn hộ có phần “xoắn” tương tự như tầng trệt. Tầng trên cùng (tầng thứ 20 trên tầng trệt) thì vuông góc với tầng trệt.

Hình dưới đây biểu diễn tầng trệt

Trên hình vẽ này, hãy trình bày cấu trúc của tầng 10, chỉ ra tầng này nằm như thế nào so với tầng trệt.


BÀI 5. ĐIỂM KIỂM TRA

CÂU HỎI 1.                                                                                                                                                          Biểu đồ dưới đây cho thấy các kết quả kiểm tra môn Khoa học của hai nhóm là Nhóm A và Nhóm B. Điểm trung bình của Nhóm A là 62,0 và điểm trung bình của Nhóm B là 64,5. Các học sinh đạt kiểm tra khi điểm số lớn hơn hoặc bằng 50. Quan sát biểu đồ, so sánh điểm trung bình của hai nhóm, giáo viên cho rằng Nhóm B đã làm bài kiểm tra tốt hơn Nhóm A.

Những học sinh trong Nhóm A chưa nhất trí với ý kiến của giáo viên. Họ cố thuyết phục giáo viên rằng Nhóm B không hề làm bài tốt hơn.

Bằng việc sử dụng biểu đồ, hãy đưa ra lập luận toán học mà các học sinh Nhóm A có thể sử dụng để thuyết phục giáo viên.

Đề,đáp án thi thử đại học năm học 2011-2012 trường THPT Phan Đình Phùng

Đề thi

http://hn-pdp.info/index.php?language=vi&nv=download&op=De-thi-thu-DH-nam-2012

Đáp án:

http://hn-pdp.info/index.php?language=vi&nv=download&op=Dap-an-thi-thu-DH-nam-2012

VÀI GỢI Ý KHI GIẢI PHƯƠNG TRÌNH, HỆ PHƯƠNG TRÌNH TRONG ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

   Phùng Hồng Kổn

    Trong các đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng hiện nay – Phương trình, hệ phương trình, bất phương trình, hệ bất phương trình là một trong những chủ đề trọng tâm, năm nào cũng có trong đề thi chính thức. Trong chương trình môn Toán THPT từ lớp 10 đến lớp 12 có rất nhiều loại phương trình : pt bậc hai, ba, bốn; pt chứa ẩn ở mẫu; pt chứa căn; pt chứa trị tuyệt đối; pt lượng giác; pt mũ; pt lôgarit. Rồi hệ đối xứng loại I; hệ đối xứng loại II; hệ đẳng cấp; hệ ba pt bậc nhất; hệ hỗn hợp bậc nhất, bậc hai….

Đối diện với một phương trình , hệ pt – loại  không đơn giản như trong các đề thi tuyển sinh, chúng ta nghĩ gì?

–         Điều kiện để các biểu thức có nghĩa là việc đầu tiên bạn cần nghĩ tới. Nếu bạn định “Bình phương hai vế” thì phải đặt thêm điều kiện để hai vế không âm.

–         Hãy xem có hằng đẳng thức nào không?

–         Có thể Phân tích thành nhân tử không?

  • Trước khi phân tích hãy thử một số nghiệm đơn giản. Chẳng hạn f(x) có nghiệm là 1 thì phân tích được thành f(x) =(x-1). g(x) (có thể sử dụng lược đồ Hoocne).
  • Với Phương trình lượng giác thì Phân tích thành nhân tử là một phương pháp rất hiệu quả, hãy chuyển tất cả sang một vế và phân tích thành tích các nhân tử mà mỗi nhân tử là một dạng quen thuộc (pt bậc nhất, bậc hai đối với một hàm số lượng giác; pt bậc nhất đối với sinx, cosx; pt đẳng cấp bậc hai, bậc ba với sinx cosx hay tanx, cotx). Chú ý nhẩm thử những nghiệm đặc biệt, chẳng hạn thử đưa về các dạng sau: (sinx-căn ba/2).g(x)=0;   (cosx+1/2).g(x)=0; (tanx-căn ba).g(x)=0… .
  • Khi giải hệ pt, “Thế” là phương pháp hay được sử dụng, tuy nhiên đề thi thường không ra đơn giản để có thể ngay từ đầu rút x từ pt này, thay vào pt  kia – mà để rút được x (hoặc y) ta phải Phân tích một trong hai pt của hệ thành nhân tử cái đã.  

–         Có thể Đặt ẩn phụ không? Rất nhiều kiểu đặt ẩn phụ

  • Đặt một ẩn phụ t đưa về phương trình ẩn t đơn giản hơn.
  • Đặt một ẩn phụ t đưa về phương trình ẩn t nhưng vẫn còn x, ta coi x là tham số, tính t theo x (thường pt bậc hai có đen ta đưa được về bình phương nhị thức hoặc nhẩm được nghiệm)
  • Đặt một ẩn phụ t đưa về hệ phương trình hai ẩn x; t
  • Đặt hai ẩn phụ u, v đưa về hệ pt hai ẩn u, v.
  • Khi đặt ẩn phụ cần lưu tâm đến điều kiện của ẩn phụ. Với bài toán tìm tham số để pt có nghiệm thì phải tìm điều kiện đúng của ẩn phụ.

Chẳng hạn:

t= căn bậc hai của (-x2+3)  đk :  0<t< căn bậc hai của 3 ; t=x+1/x, đk : trị tuyệt đối của t >2

(Đôi  khi phải khảo sát hàm số để tìm điều kiện đúng của ẩn phụ)

–         Đặt ẩn phụ là một giải pháp thường được  nghĩ tới. Tuy nhiên , nghĩ tới rồi mà không biết đặt cái gì làm ẩn phụ. Khi đó phải Biến đổi để xuất hiện những biểu thức đồng dạng (chẳng hạn: x2-3x+2 và (x2-3x+2)2 là hai biểu thức đồng dạng) rồi mới có thể đặt ẩn phụ. Một số thủ thuật dùng khi Biến đổi: Thêm, bớt, chia hai vế cho một đại lượng (phải khác không đấy nhé), nhân tử và mẫu (hoặc hai vế) với biểu thức liên hợp…

–         Nếu các “miếng võ” kể trên vẫn không khuất phục được “đối thủ”, bạn hãy mở nốt hai “chiêu”: Sử dụng Tính đơn điệu của hàm số : Đầu tiên nhẩm nghiệm (thường chỉ có một nghiệm), rồi chứng minh không còn nghiệm nào khác nữa. Và Đánh giá: Chứng minh vế trái nhỏ hơn hoặc bằng vế phải (hoặc vế trái lớn hơn hoăc bằng a, vế phải nhỏ hơn hoặc bằng a) rồi xét dấu bằng xảy ra . Thử áp dụng với hai pt này nhé:

Căn bậc hai của(x-1)=-x3-4x+5 ;

2căn bậc hai của (7x3-11x2+25x-12)=x2+6x-1

.  Một tín hiệu để bạn sớm nghĩ đến hai “chiêu” đặc biệt trên là Sự bất bình thường ở mỗi vế của phương trình (chớ dại mà Bình phương hai vế của những pt trên nha).

Trên đây là vài gợi ý nhỏ, để biến chúng thành “võ” của mình các bạn cần LUYỆN.

Chúc các bạn sĩ tử thành công

PHK

Ôn thi Toán, chú trọng rèn kỹ năng

Quý Hiên

 

Ôn thi Toán, chú trọng rèn kỹ năng

Sự nhầm lẫn trong quá trình làm một bài toán có thể đến với bất kỳ học sinh nào, ngay cả học sinh giỏi. Những bài toán tưởng như nhìn qua đã có thể giải được ngay thì lại khiến học sinh dễ nhầm lẫn.

Không lạm dụng việc học thêm

Để ôn tập có hiệu quả môn Toán, điều đầu tiên các HS phải lưu ý, đó là ôn tập một cách thật vững chắc tất cả các kiến thức cơ bản và các dạng bài tập cơ bản có trong chương trình.

Những năm gần đây, đề thi các kỳ thi tốt nghiệp THPT cũng như thi tuyển sinh ĐH, CĐ đều rất bám sát chương trình. Có những đề thi “vét” gần như toàn bộ chương trình.

Thứ hai, khi bắt tay vào giải một bài toán, HS tuyệt đối không nên làm động tác là nhớ lại xem bài này đã được giải như thế nào. Các em cần phải suy nghĩ phân tích để tìm ra phương pháp giải quyết bài toán đó.

Trong quá trình giải toán, nếu như quên một công thức toán học nào đó thì trước hết các em nên chủ động tự mình tìm lại công thức ấy. Không nên làm ngay cái động tác là mở sách giáo khoa ra để xem lại.

Học toán (học ở trên lớp cũng như khi ôn tập) là để nâng cao năng lực tư duy của mình. Hiện nay, HS đi học thêm rất nhiều nên mỗi khi gặp một bài toán, các em thường hay mắc phải sai lầm là nhớ lại cách giải.

Điều này sẽ kìm hãm tư duy, sẽ khiến cho HS nhớ kiến thức một cách thụ động, đồng thời không nâng cao được năng lực tư duy thông qua việc giải quyết bài toán.

Làm nhiều bài tập, đó là một cách học toán có hiệu quả nhất. Thông qua việc giải quyết bài tập, HS sẽ nhớ lại những kiến thức cơ bản có liên quan. Đồng thời có thể tự rút ra những điều cần chú ý khi vận dụng những kiến thức cơ bản đó vào việc giải toán.

Đề thi môn Toán tuy không có lý thuyết nhưng các em phải nắm thật chắc, phải hiểu thật sâu sắc lý thuyết mới có khả năng vận dụng để làm bài tập.

Vì những lý do trên mà HS không được lạm dụng việc học thêm. Các em phải có cho mình thời gian tự ôn tập và tự rèn luyện kỹ năng làm bài. Trong  thời gian ôn tập, các em cần bố trí thời gian học với thời gian nghỉ ngơi một cách hợp lý để tránh gây căng thẳng.

“Cảnh giác” với những bài toán thoạt nhìn đã thấy cách giải

Để ôn tập môn Toán, dĩ nhiên HS phải phải rèn luyện kỹ năng làm bài. Kỹ năng này bao gồm phương pháp phân tích để tìm ra lời giải bài toán, kỹ năng trình bày lời giải bài toán, kỹ năng tính toán.

Trong quá trình làm bài, các em sơ suất một đôi chỗ, hoặc bỏ qua một số bước, hoặc thiếu điều kiện, làm không chặt chẽ… đều dẫn đến kết quả không như ý muốn. Toán học đòi hỏi phải chặt chẽ. Thiếu đi một sự chặt chẽ là bị mất điểm, đôi khi dẫn đến đáp số sai.

HS thường nghĩ rằng, điều quan trọng trong việc làm toán là tìm ra phương pháp giải. Vì thế, khi tìm được phương pháp giải rồi thì bắt đầu chủ quan, tính toán thiếu tập trung dễ dẫn đến tính nhầm. Xu hướng ra đề hiện nay là đưa ra những bài tập rất cơ bản.

Do đó, HS lại thường nhầm ở những bài toán rất đơn giản. Từ trước đến nay vẫn thế, có những bài toán nhìn cái tưởng như giải được ngay, đến khi làm vào trong bài rồi lại nhầm.

Có những tính nhầm rất lạ lùng: 2 + 8 = 11 (!). Điều đó xảy ra ngay cả với những HS học giỏi, bình thường học rất chắc chắn. Vì thế mới có những bài thi lẽ ra được điểm 10 nhưng vì một sơ suất nhỏ nào đó mà chỉ được 9,5 điểm. Để khắc phục tình trạng này, trong quá trình ôn tập các em phải tự rèn cho mình kỹ năng tính toán.

Khi trình bày lời giải, HS phải thể hiện một cách rõ ràng, mạch lạc, từng bước một. Điều này thì các GV đều hướng dẫn các em ở trên lớp rất kỹ rồi. Mỗi bài toán đều cần qua trình tự các bước giải. Làm đến đâu chắc chắn đến đó.

Trong quá trình ôn tập, việc tự luyện đề rất cần thiết. Các em hãy lấy một đề 180 hoặc 150 phút rồi trước mặt, đặt cả đồng hồ nữa rồi bấm giờ.

Sau đó làm một mạch rồi tự đánh giá thông qua lời giải và biểu điểm có sẵn (đề thi có thể xin của GV hoặc tìm trên trang web về giáo dục hoặc trên một số tờ báo điện tử).

Theo
Tiền Phong