Một thoáng Kinh Bắc

Phùng Hồng Kổn

GA 4

Dạ xướng ngũ canh hòa

           Từ Hà Nội, theo quốc lộ 5 đến Phú Thuỵ, rẽ trái, thăm chùa Keo, chùa Dâu, lại rẽ trái, tới chùa Bút Tháp, theo bờ đê, qua đền thờ và lăng Kinh Dương Vương, cuối cùng đến làng tranh Đông Hồ – thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (cả thảy chừng 35 km).Có thể xem đây là một vòng cung văn hóa Kinh Bắc.

Sử sách còn ghi lại rằng, năm 1469 vua Lê Thánh Tông cho san định bản đồ, thừa tuyên Bắc Giang đổi là trấn Kinh Bắc, khi đó trấn Kinh Bắc gồm bốn phủ: Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang và Thuận An. Phủ Thuận An có năm huyện: Gia Lâm, Lang Tài, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định. Năm 1822  trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Năm 1862, phủ Thuận An đổi là Thuận Thành. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, bỏ cấp tổng, cấp xă được mở rộng. Năm 1963, hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang sát nhập thành Hà Bắc, từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra như cũ.

Như vậy, địa danh Kinh Bắc đã có cách đây gần 600 năm và không còn trên bản đồ đă được gần 200 năm. Mặc dầu vậy, cái tên “Kinh Bắc” vẫn thường xuyên xuất hiện trên thơ văn, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng với một niềm tự hào, giống như sông Đuống trong “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm mãi “trôi đi một dòng lấp lánh” với Chợ Hồ, chợ Sủi với núi Thiên Thai, với chùa Bút Tháp……

Ghé thăm các di chỉ

Qua nhiều đợt khai quật, các nhà khảo cổ đă t́m thấy một số lượng hiện vật lớn và phong phú về chủng loại.

Ở Thiên Đức (Thái Bảo – Gia Lương) và ở Tam Giang (Yên Phong) cùng tìm thấy những chiếc rìu đá mài, có vai cân xứng màu xám và nhẵn. Những chiếc rìu này chứng tỏ kỹ thuật chế tạo đá đã rất tinh xảo.Hai  bờ sông Đuống, sông Dâu có nhiều di chỉ khảo cổ có giá trịnhư: di chỉ Đại Lai (Gia Lương) di chỉ Đồng Nội  thôn Đại Trạch xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành) có niên đại Đường Cồ, di chỉ bãi giữa sông Dâu xã Thanh Khương (Thuận Thành) có niên đại Đường Cồ sớm. Ở các di chỉ này người ta tìm thấy: rìu đá, vòng tay đá, đục đá, chày đá; rìu đồng, lao đồng, mũi tên đồng, nồi gốm, doi xe chỉ gốm, bi gốm v.v… Các di chỉ này cho thấy con người đã khai phá và chinh phục vùng Kinh Bắc từ rất sớm – ít nhất là 4000 năm trước đây.

Từ các di tích lịch sử – văn hoá

Có thể nói, trên đất nước ta không đâu có nhiều dấu son lịch sử-văn hóa hơn vùng Kinh Bắc. Riêng ở  Thuận Thành có:

– Đền và lăng Kinh Dương Vương ở làng Á Lữ xã Đại Đồng Thành.  Kinh Dương  Vương là  người sinh ra Lạc Long  Quân, Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra vua Hùng  mở đầu các triều đại ở nước ta;

– Đền và lăng Sỹ Nhiếp ở làng Tam Á xã Gia Đông, cổng đền có chữ  “Nam Giao học tổ”;

– Đền Lũng Khê và thành Luy Lâu thuộc xã Thanh Khương;

– Chùa Dâu – tên chữ là Pháp Vân tự, thuộc xã Thanh Khương. Đây được coi là cái nôi của Phật giáo Việt Nam tính  từ thế kỷ thứ III sau công nguyên. Theo “Thiền Uyển tập anh”: “Xứ Giao Châu có đường thông sang tây Trúc, Phật giáo vào Trung Quốc,chưa phổ cập đến miền Giang Đông mà nơi ấy đã xây ở Luy Lâu 20 ngọn bảo tháp, độ được 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi”.  Nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi người Tây Tạng đã trụ trì ở đây và lập nên phái Thiền Tông.Các môn đồ của ông sau trở thành những người nổi tiếng ở nước ta như: Từ Đạo Hạnh, Pháp Hiền, Vạn Hạnh…

– Chùa Bút Tháp – tên chữ là Ninh Phúc tự, thuộc xã Đình Tổ, có tháp đá cao 13m và pho tượng phật bà nghìn mắt, nghìn tay – một kiệt tác điêu khắc Phật giáo.

Huyện Từ Sơn có:

– Đền Lý bát đế  thờ tám vị vua nhà Lý bắt đầu từ Lý Thái Tổ – người dời đô từ  Hoa  Lư về Thăng Long mở đầu một thời kỳ thịnh vượng của quốc gia Đại Việt.

–  Đình Đình Bảng – một công trình kiến trúc tiêu biểu của cư dân đồng bằng Bắc Bộ với nhiều chạm khắc tuyệt tác như: Lưỡng long chầu nguyệt, Cửu long tranh châu, Lục long ngự thiên, Long vân đại hội, rồi Phượng vũ, Tứ linh, Tứ quí, Bát mã  quần phi, Sư tử hí cầu v.v…

– Chùa Phật Tích thuộc xă Phật Tích – với pho tượng đá phật Adi đà ngồi “Tĩnh toạ kiết già” và tháp Báo Nghiêm xây dựng từ năm 1692 và 31 ngọn tháp khác.

Ngoài ra văn hóa Kinh Bắc còn nổi tiếng với nhiều di tích khác như: Đền thờ Cao Lỗ ở Gia Lương, Chùa Bà Tấm ở Quế Võ, Đình Thổ Hà ở Việt Yên v.v…

Đến đèn sách, khoa bảng CHÙA BÚT THÁP

            Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, Luy Lâu (Thuận Thành) và Long Biên (Yên Phong)  thay nhau làm thủ phủ của chính quyền đô hộ. Đầu Công nguyên,  hai viên thái thú là Tích Quang và Nhâm Diên đă “Dựng học hiệu”, “Dạy lễ nghĩa”  ở Giao Chỉ và Cửu Chân. Sau đó, Sỹ Nhiếp- người nước Lỗ, đỗ Hiếu Liêm, được bổ Thượng thư lang, thời vua Hán Hiến đế, được cử sang làm thái thú Giao Chỉ (từ năm 187 đến năm 226). Sỹ Nhiếp xin vua Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu. Kế tục công việc của Tích Quang và Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của Nho học ở giao Châu như  tổ chức học hành, truyền bá chữ viết, nâng cao dân trí. Vì vậy, ông được dân phong là Nam Giao học tổ, và gọi là Sỹ Vương mặc dù ông chưa được phong vương bao giờ và ông cũng chưa từng xưng vương.

Kinh Bắc là vùng đất học, lại tiếp xúc với Nho học sớm, do đó việc học tập và thi cử ở đây  phát triển mạnh mẽ, số người đỗ đạt nhiều nhất nước.

Trong 845 năm khoa cử (1075-1919) cả nước có 187 khoa thi đại khoa (thi hội, thi đình) lấy 2991 tiến sỹ.Kinh Bắc tham dự 145 khoa, đỗ 645 tiến sỹ (chiếm gần 1/4 số tiến sỹ cuả cả nước) và số người đỗ “tam khôi” (Trạng nguyên, Bảng nhăn, Thám hoa) là 17/47.

Theo sách “Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo” do tiến sỹ Phan Hòa Phủ biên tập, học trò ông là Lễ Trai Phan Huy Sảng hiệu đính, ghi chép số người đỗ đại khoa từ năm 1075 đến năm 1788 (hết đời Lê Trung Hưng) thì Kinh Bắc đỗ được 593 người, gồm 15 trạng nguyên, 8 bảng nhãn, 23 thám hoa, 129 Hoàng giáp, 418 tiến sỹ. Trong đó Thuận An có 236 người: 6 trạng nguyên, 2 bảng nhăn, 7 thám hoa, 53 hoàng giáp, 168 tiến sỹ. Trong phủ Thuận An, riêng huyện Siêu Loại  có 36 người đỗ tiến sỹ. Dân gian có một câu: “Dốt Lạc Thổ cưỡi cổ thiên hạ” (làng Lạc Thổ xưa nằm trong tổng Đông Hồ – Thuận Thành).Câu này tuy có vẻ hơi quá lời nhưng thực tế là làng Thổ Lạc có nhiều người đỗ đạt.

Năm 1075, tại khoa thi tam trường, Lê Văn Thịnh người làng Đông Cứu huyện Gia Bình đã đỗ đầu, ông được coi là Trạng nguyên khai khoa của cả nước. Năm 1469 Thân Nhân Trung người xă Yên Ninh huyện Yên Dũng đỗ tiến sỹ, được giao khắc bia ở Văn miếu, câu văn nổi tiếng  của  ông luôn được các thế hệ ngày nay nhắc tới: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.

tran nhat tan

Nghệ nhân tranh Đông Hồ Trần Nhật Tấn

Kinh Bắc cũng là đất của hội hè, đình đám.Một số lễ hội vẫn còn đến ngày nay nhưng phần nhiều chỉ còn trong sách vở và trong kí ức những người cao tuổi ở đây. Xin được điểm danh một số lễ hội và các phong tục diễn ra trong lễ hội:

– Hội Lim với Hát quan họ đă quá quen thuộc, nay vẫn được tổ chức vào 13 tháng Giêng hằng năm;

– Hội Thi nấu cơm ở Tư Thế (Thuận Thành);

– Thi dệt vải ở Nội Duệ, Cầu Lim;

– Trò chơi Tranh cây Mộc Tất(dành cho các cụ trên 50 tuổi) ở Long Khám (Từ Sơn);

– Trò Ôm cột ở Đồng Kị (Từ Sơn);

– Thi Bơi chải ở Đại Than (Gia Lương);

– Đánh đu, kéo co thì có ở hầu khắp các hội;

– Thi hàng Mã ở Đông Hồ, Đạo Tú, Tú Khê (Thuận Thành);

– Múa rối ở Thanh Long, Đào Thị,Thịnh Lộc (Quế Võ);

– Trò Bắt vịt  dưới nước ở Đồng Kị (Từ Sơn);

– Đánh Cờ người  ởhội nào cũng có. Đấu vật có ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng nhất là các lò vật Tri Nhị, Chung Màu (Gia  Lương).

– Hội Dâu có Lễ tắm Phật  (mộc dục) nay chỉ còn lại câu ca: “Dù ai buôn bán trăm nghề/ Đến  ngày mồng tám thì về hội Dâu” ( 8/4 âm lịch).

–  Tục ca hát thờ thần mừng dân có ở hầu như đại bộ phận các hội ở Kinh Bắc. Xưa. Có những làng chuyên đi hát giữ cửa đình như Thanh Tương, Thanh Hoài (Thuận Thành), Lỗ Khê (Từ Sơn) … Cứ theo lịch, các làng vào đám mở hội là đào, kép của các làng trên lại đến hát múa gọi là:“Trước là thờ đấng thượng đẳng tối linh, sau là chúc mừng dân bình an, khang thái, sau nữa là vui xuân vui hội cầu may, cầu phúc”

–  Hội chọi gà phổ biến ở rất nhiều nơi, nhưng nổi tiếng nhất là các hội Đình Bảng (Từ Sơn),Thổ Hà (Việt Yên), Yên Phụ (Yên Phong). Hội này thu hút mọi người ưa thích chọi gà trong toàn tỉnh và cả tỉnh ngoài. Giải gà chọi chia lần lượt các thứ bậc: Nhất thắng, nhị  thắng, tam thắng. Những  con gà vào giải là những gà thuộc giống chọi được chọn kỹ từ gà bố, gà mẹ. Khi mới bóc trứng lại được khảo sát kỹ theo tiêu chuẩn nhà nghề để lọc ra nuôi riêng. Được vài ba tháng lại lọc một lần nữa và nuôi theo theo một phương pháp công phu. Đến khi gà nhú cựa đă được tập dượt từng bước theo trình độ từ thấp lên cao. Gà được chọi thử nhiều lần mới đem đến hội để chọi trong hội.

– Trò Bắt chạch trong chum diễn ra ở Phú Mẫn (Yên Phong), và ở Á Lữ (Thuận Thành).Chạch được thả vào trong chum, từ 5 đến 7 chum đặt hàng ngang ở sân đình.Muốn vào thi bắt chạch phải có hai người, một trai một gái cùng bắt chạch ở một chum. Đôi trai  gái phải ôm nhau bằng một tay, bắt chạch bằng một tay. Các cụ cho rằng như thế âm dương mới giao hòa, gió hoà mưa thuận, mùa màng tốt tươi, người vật an thịnh.

– Lễ rước ở hội đền Lý Bát Đế thời xưa. Trong lễ, nam tướng gồm144 người, mặc áo đỏ,  ống tay dài; nữ tướng gồm 18 người, đội khăn xô, quần áo màu; mỗi tướng có một lọng xanh. Hơn 100 người được chọn để cầm kích, khiêng kiệu.Người cầm kích mặc áo vàng, người khiêng kiệu mặc áo đỏ đội mũ đen. Ba người cao, đẹp, mặt mũi nghiêm trang, dáng vẻ khoan thai, cường tráng, cởi trần, đóng khố vàng, tay cầm chuỳ – tượng trưng ba tướng võ. Khi rước, tướng võ đi trước, sau đó là một trăm người cầm kích, rồi đến kiệu của Thánh mẫu có 18 nữ tướng đi phù giá, tiếp theo là kiệu của 8 vị vua, mỗi kiệu có một con ngựa và 18 nam tướng theo sau, và đi sau cùng là các vị sắc mục, hương lão áo mũ chỉnh tề. Trong đám rước, cờ, lọng, tán, quạt rực rỡ.Sênh, trống, đàn phách rộn rã, rền vang một khoảng trời.Hàng vạn người kéo ra. Kiệu các vị vua được rước từ  Đền Lý bát đế đến chùa Cổ Pháp, nghe tụng kinh một đêm, sáng hôm sau lại rước về Đền.

Hội Lim

Hội Lim

– Hội thi  Đọc mục lục ở Phù Khê (Từ Sơn) và ở Đông Hồ (Thuận Thành)là một hội thi rất độc đáo, tiếc rằng ngày nay cũng không thấy ở đâu tổ chức nữa. Mục lục ở đây là một loại văn bản viết về truyền thống tốt đẹp của làng.Cuộc thi bắt đầu vào giờ tuất.Người thi mặc lễ phục, đứng trên ghế cao có hai người hộ vệ hai bên ăn mặc chỉnh tề, cầm một ngọn nến soi lên bản mục lục viết trên lụa, treo cao.Sau mỗi câu đọc đúng và hay, sẽ có một tiếng trống, một tiếng chiêng được gõ lên y như người ta thưởng cho hát ả đào mỗi khi nghe được một câu hay. Nếu đọc sai bị trống và chiêng khua một hồi nhỏ.Khi kết thúc tốt đẹp thì ba hồi trồng, chiêng nổi lên khích lệ.Giải thưởng thường là tấm nhiễu, gói chè (ngày xưa là chè Chinh Thái)và vài loại bánh trái, hoa quả địa phương.Tổng Đông Hồ xưa có một ngôi nghè (miếu thờ thần) rất đẹp thường tổ chức các hoạt động văn hoá trong đó có thi đọc mục lục.

– Thi Nuôi gà béo ở Lạc Thổ (Thuận Thành) và Đại Bái (Gia Lương). Gà đem thi được chọn những con chân cao, mình dài, khung xương ức rộng, cổ cao, đầu to, mỏ quằm, cứng, mào săn. Gà được nuôi trong cũi, chia từng ngăn, cho ăn viên bột gạo độn cám mịn, mối trắng (nuôi bằng rơm  rạ), có con nặng tới 7, 8 kg, béo đến mức khi  bước đi hai âu cánh xệ xuống rung rung theo nhịp chân. Giống gà này gọi là gà Hồ, cùng vớigà Mía (Sơn Tây) và gà Đông Cảo (Hưng Yên) nổi tiếng khắp cả nước.

– Thi nuôi lợn thờ ở Niệm Thượng (Tiên Sơn).Từ tháng 7 năm trước, mỗi giáp phải nuôi một con – thường là lợn ỉ. Chiều tối mồng 5 tháng giêng mang ra đình làm lễ.Những “ông lợn” được chọn béo húp híp, ục ịch, da láng bóng lang hồng, nặng hàng tạ. Trưa mồng 6 là lễ chém lợn: Quan Đám làm lễ xong lấy hai con dao thờ trao cho hai thanh niên được lựa chọn trong hai giáp. Hai thanh niên này bước lên trước hương án làm lễ rồi lùi về, mỗi người đứng bên một cũi lợn. Hiệu lệnh bằng trống, chiêng vừa dứt thì các quan viên mở dải nhiễu điều phủ cũi, xua lợn ra. Mỗi thanh niên phải chém một nhát đứt đôi một con lợn, nhát chém phải cắt ngang lợn, sát hai chân trước, không được làm đứt lòng. Lợn chém xong, làm lễ rồi chia cho dân làng.

– Hội Chen ở làng Ngà (Quế Võ): Sáng ngày 6 tháng giêng, tại miếu thờ Linh Sơn Mị Nương, làng tổ chức cuộc tế. Giữa cuộc, đàn ông, từ thanh niên đến ông già  chạy xô đến chen đàn bà. Thời đó có câu ca: “Trẻ chen với trẻ, già dong với già”. Vui vẻ một lúc mọi người tập trung quanh đám tế khấn cầu: “già mạnh khoẻ, trẻ dẻo dai, của đồng làm ra, của nhà làm nên…”.Tiếp đó là một đám rước đi quanh làng, rồi lại bắt đầu cuộc chen. Lần này con gái, bà già chen con trai, ông già, chen cả người làng và cả khách đến xem hội, cứ như vậy cho đến hết rước.

Kinh Bắc còn có một loại chợ khá đăc biệt, đó là Chợ âm dương.Chợ họp lúc chạng vạng tối, lúc ấy dương chưa tắt, âm tràn sang, âm dương  có thể giao hoà.Người đi chợ chỉ mua, bán đồ vật cũ. Người bán nói giá, người mua im lặng mở xâu tiền, rút một đoạn bỏ vào tay người mua. Người mua lặng lẽ bỏ vào bị, ra về. Chợ họp rất nhanh chỉ thấy những bóng đen di chuyển nhẹ nhàng, tiếng xì xầm nho nhỏ, người ta nói là ma họp với người. Mua bán như vậy tất có người thiệt, nhưng người ta quan niệm thiệt lại là hơn vì được dịp làm phúc.Chợ âm dương có ở Chợ Dầu (Thanh Khương, Thuận Thành), Chợ Ó (Võ Cường, Thị xã Bắc Ninh), Chợ Chằm (Mão Điền, Thuận Thành),Chợ Chai, chợ Chọi, Chợ Bậu (Yên Phong).Chợ Bậu cón tục để một thau nước thử tiền.Người dân bảo nhau: Bỏ tiền vào thau, nếu là tiền “ma” thì tiềnsẽ  biến mất.

 

Văn chương dân gian

Văn chương dân gian ở Kinh Bắc đă phản ánh thực tế muôn hình muôn vẻ  của đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây.

Về truyện kể dân gian phải kể đến các truyện mang nhiều yếu tố lịch sử như truyện Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân – Âu Cơ, Mị Châu – Trọng Thuỷ; Thánh Gióng (làng Phù Đổng trước đây thuộc Tiên Sơn, từ năm 1962 mới thuộc Hà Nội); Man Nương  (hiện nay ở chùa Dâu còn giữ một bản khắc “Cổ Châu Phật bản hạnh” kể về sự tích Man Nương và chùa Dâu).Truyện  mang những yếu tố văn hóa như Trương Chi (gắn với dân ca quan họ). Truyện  Tấm Cám khi kể ở Kinh Bắc lại mang bóng dáng của  Nguyên phi Ỷ Lan.

Kinh Bắc còn nở rộ các “Làng cười” (làng kể chuyện cười) như Làng Hiên Ngang, Yên Tử ở Tiên Sơn; làng Trúc Ổ, Đông Sài ở Quế Võ; làng Đông Yên ở Yên Phong. Riêng làng Đông Yên  c̣òn có cả hội thi nói khoác…

Ca dao cũng là một thể loại phát triển mạnh mẽ  ở Kinh Bắc, trong đó nổi tiếng với những bài nói về các nghề thủ công, về làng tranh Đông Hồ. Chúng tôi xin dẫn ra hai bài làm ví dụ:

Chằm Ngâm đi bán cá con

Đông Hồ làm mã, Cầu Nôm đúc nồi

Ngăm Ngơ là đất nung vôi

Đại Toàn đan bị, Đông Côi đan giành

Đại Mão là đất cửi canh

Đông Miếu, Thuỵ Măo chạy quanh xó rừng.

 

Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về

Làng Mái có lịch có lề

Có ao tắm mát có nghề làm tranh.

Sân khấu dân gian

Loại hình sân khấu dân gian ở Kinh bắc khá phong phú. Có thể kể đến: Hát trống quân ở Thuận Thành, Gia Lương;  Hát chèo trong hội rước nước ở chùa Dạm (Quế Võ); Hát ch̀o nhà Phật (các ni sư tiến hành trong dịp tang ma, ngày xá tội vong nhân);Hát ả đào ở Lỗ Khê (Từ Sơn), ở Thanh Khương (Thuận Thành); Múa rối cạn ở Bùi Xá, Đồng Ngư (Thuận Thành); Múa rối nước ở Thịnh Lộc (Quế Võ);Hát tuồng ở Đồng Kỵ, Tam Lư, Đình Bảng, Phú Mẫn. Chính sự phong phú các loại hình sân khấu ở Kinh Bắc đã nói lên nhiều điều về sự giao lưu tiếp biến và vượt gộp trong văn hóa của người Việt.

Dòng tranh Đông Hồ

Với  nền văn hoá vật thể và phi vật thể như trên, Kinh Bắc đã sinh ra làng tranh Đông Hồ nổi tiếng. Trong ký ức những người cao tuổi, xưa, tên làng là Đông Mại, gọi nôm là làng Mái, thuộc tổng Đông Hồ, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc.  Có những bức tranh Đông Hồ như bức “Đám cưới chuột” và nhiều bức khác nữa, chỉ xem một lần đã để lại trong lòng những ấn tượng khó phải mờ. Thực không quá lời khi nói tranh Đông Hồ đã lưu giữ được nhiều nét tinh hoa của văn hoá Kinh Bắc. Dòng tranh Đông Hồ với một thứ ngôn ngữ tạo hình mộc mạc mà sâu lắng, khó lòng một thoáng lướt qua, nếu muốn tìm hiểu phải dừng chân chiêm ngưỡng và suy ngẫm.

 

 

2 phản hồi

  1. Trấn Kinh Bắc thích nhất là trò chơi bắt trạch, Ko biết bây giờ còn tổ chức ko? nếu có thì thông báo nhé!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: