THƯỞNG NGOẠN TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ (số 5)

Phùng Hồng Kổn

Chương hai  

Nguồn gốc và sự phát triển của  dòng tranh Đông Hồ

Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, nhiều tác phẩm điêu khắc  cổ còn giữ được đến ngày nay, nhưng với hội hoạ thì chỉ có thể biết đến trong văn bia, sử sách. Trên tấm bia của chùa Sùng Nghiêm Diên Khánh ở Thanh Hoá – xây năm 1118 (thời Lý) có ghi: “Chùa có tường vách vẽ đồ, chư duyên nhân quả, thiên biến vạn hoá, rất là huyền diệu… đúng là nơi cư trú của phật vậy”.  Cuốn sử  Thông giám cương mục, viết: “Sau khi thắng quân Nguyên lần thứ hai, vua (Trần Nhân Tông) sai vẽ chân dung những người có công trong việc kháng chiến vào sách Trung lương thực lục”. C̣ũng theo Thông giám cương mục, cuối đời Trần, Hồ Quý Ly chuyên quyền, Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông lo sợ, muốn dùng hội hoạ để khuyên nhủ Hồ Quý Ly nên sai hoạ sỹ vẽ tranh: Chu Công giúp Thành Vương, Hoắc Quang giúp Chiêu Đế, Gia Cát Lượng giúp hậu chúa, Tô Hiến Thành giúp Lý Cao Tông – gọi là “Từ phụ đồ” ban cho Quý Ly và dặn rằng: “Khanh giúp quan gia cũng nên noi theo những người ấy”. Tiếc rằng những bức tranh trên không còn đến ngày nay. Thời Hậu Lê còn để lại  một số tranh: Bộ tranh  vẽ sơn màu trên gỗ có nguồn gốc ở đình làng Đông Ngạc Từ Liêm Hà Nội, đề tài là “sĩ, nông, công, thương” và “Ngư, tiều, canh mục”. Hay tranh “Thập điện” ở chùa thầy (Hà Tây), tranh “Sùng bái phật” ở chùa Hoè Nhai (Hà Nội) , tranh chân dung Nguyễn Trăi,  chân dung Phùng Khắc Khoan  v.v…

Tranh dân gian không thuộc dòng chính thống từ cung đình nên  không hề được những cuốn sử cũ nhắc tới, tuy nhiên ngày nay ta vẫn biết tới các dòng tranh: Đông Hồ – Bắc Ninh, Kim Hoàng – Hà Tây, Hàng Trống – Hà Nội, làng Sình, làng Chuồn – Hương Phú Thừa Thiên Huế, do sự hiện diện của chính những tờ tranh đó trong những năm gần đây.

Trong các dòng tranh trên thì tranh Đông Hồ là nổi tiếng nhất  bởi lẽ nó thấm đậm bản sắc dân tộc – do sự mộc mạc, dân dã của làng quê

Chân dung Nguyễn Trãi

Việt Nam đă được đưa vào  tranh bằng chất liệu đặc biệt là giâý Dó quét Điệp, màu sắc được chế biến từ  cỏ cây, đất đá – mà các dạng tranh khác không hề có (Tranh Hàng Trống – Hà Nội, tranh làng Sình, làng Chuồn – Huế, đều in nét trên giấy trắng, tô màu bằng phẩm ngoại; Tranh Kim Hoàng in trên giấy hồng điều, tô màu bằng phẩm ngoại).

Bằng những chất  liệu độc nhất, vô nhị như trên, với sự giao lưu văn hoá, Đông Hồ có thể làm cho tranh có nguồn gốc từ nơi khác – thành tranh của mình, ngược lại, không có dòng tranh  nào làm cho tranh Đông Hồ  thành tranh của họ được.

Vậy tranh Đông Hồ ra đời khi nào? ai là ông tổ nghề làm tranh điệp? Cho đến nay, các nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật chưa tìm được câu trả lời chính xác.

Chúng ta hăy mở lại lịch sử , điểm lại những dấu hiệu có thể coi là tiền đề của hội hoạ, đồ hoạ nói chung và tranh dân gian nói riêng – từ thời nguyên thuỷ đến thời phong kiến.

Với các di chỉ khảo cổ đă phát hiện, các nhà sử học đă chứng minh rằng nước ta là một trong những cái nôi của loài người, con người đă chinh phục đất Việt từ thời nguyên thuỷ, và họ đă sáng tạo mỹ thuật ngay từ thời kỳ đó.

– Thời kỳ đồ đá giữa, (10 000 năm trước đây):

Hang Đồng Nội (Hoà Bình) có những hình khắc mặt một con thú và ba mặt người- trên đầu có  vật như cái sừng trâu; Hang làng Bon (Thanh Hoá) có những viên cuội khắc hình cành cây, lá cây.

– Thời kỳ đồ đá mới (5000 năm trước đây):

Con dấu hoa văn Hoa Lộc

Di chỉ Hoa Lộc, Phú Lộc (Thanh Hoá) có  con dấu in hoa văn nhiều dạng khác nhau, hình sóng, hình mạng lưới, hình tròn, hình xoắn … C̣ũng ở đây đồ gốm được trang trí rất tinh xảo, hoa văn được kóo thành vành trên các bộ phận, hoặc bố trí thành cụm xen kẽ vào các vành. Mỗi hoa văn gắn với một loại gốm nhất định, hình dáng càng phức tạp thì hoa văn càng càng phức tạp. Di chỉ Bàu Tró cũng có nhiều đồ gốm trang trí đẹp.

– Thời đại đồ đồng (4000 năm trước):

Các di sản văn hoá thời đại này rất nhiều, điển hình là trống đồng. Trên trống đồng Ngọc Lũ , ở giữa có hình ngôi sao 14 cánh, xung quanh là 12 vòng tròn đồng tâm với các hình trang trí: hình tròn có tiếp tuyến, hình xoắn ốc có tiếp tuyến, rồi người, vật, hươu, đặc biệt là những con chim Lạc cách điệu rất đẹp.

Hoa văn trống đồng Ngọc Lũ

– Thời kỳ Bắc thuộc (từ năm 111 trước công nguyên đến năm 931):

Trong thời gian này nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đă phát triển, và còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Đồ gốm cũng vậy, Viện bảo tàng lịch sử hiện đang lưu giữ chiếc mâm đất nung có trang trí ba con cá châu đầu vào nhau và những hoa văn  hình tròn có tiếp tuyến – những hoa văn này rất giống hoa văn trên trống đồng Đông Sơn, đây là một bằng chứng về truyền thống của nghệ thuật dân tộc nước ta.

Nghề  làm tranh dân gian  liên quan đến làm giấy và in ấn.

Theo Nguyễn Bá Vân và Chu Quang Trứ “Vào khoảng thế kỷ III, dân Giao Chỉ dă biết dùng gỗ trầm để làm giấy Mật Hương và đã bán cho thương nhân La Mã hàng vạn tờ. Sang thế kỷ IV còn biết dùng cả rong, rêu để làm giấy Trắc Lý. Cho đến cuối đời Lý giấy của ta đã thành món quà quý trong ngoại giao tặng triều đình Tống.”(1)

Vào năm 1396, cuối đời Trần, Hồ Quý Ly phát hành tiền giấy “Thông báo hội sao”, có 7 loại: 10 đồng, 30 đồng, 1 tiền, 2 tiền, 3 tiền, 5 tiền, 1 quan. Trên các loại tiền đó in hình: rong, sóng, mây, rùa, lân, phượng, rồng. Điều này chứng tỏ nghệ thuật vẽ và kỹ thuật khắc ván, in ấn đă đạt tới trình độ khá cao – (mới có thể chống được nạn làm tiền giả). Điều thú vị là những hình vẽ trên, tiền của nhà nước  có đề tài rất bình dân: rong, sóng  mây, rùa… – có vẻ như gần g̣ũi với đề tài của tranh đông Hồ.

Theo Lịch triều hiến chương loại chú của Phan Huy Chú, Lương Nhữ Hộc người làng Hồng Liễu Hải Dương, đỗ thám hoa  đời Lê Thái Tôn (1434-1442), đi sứ nhà Minh, học được nghề in ván gỗ. Về nước ông truyền cho dân làng, từ đó làng Hồng Liễu có nghề khắc ván và in sách. Dân làng tôn ông là “tổ sư”.

Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (nhà xuất bản Văn hoá 1962) Vào thế kỷ XVI, nhà thơ Hoàng Sỹ Khải, người làng Lai Xá Bắc Ninh, khi tả lại cảnh tết ở kinh thành trong bài thơ “Tứ thời khúc vịnh” đă viết:

“Chung quỳ khéo vẽ nên hình,

Bùa đào cấm quỷ phòng linh ngăn tà

Tranh vẽ gà, cửa treo thiếp yểm,

Dưới thềm lầu hoa điểm thọ dương”

Theo gia phả  họ Nguyễn  Đăng – một  dòng họ lớn ở Đông Hồ thì nghề làm tranh của làng đã trải qua 20 đời tức là khoảng 500 năm, ứng với thế kỷ XVI, thời Hậu Lê – trùng với thời gian Hoàng Sỹ Khải làm bài thơ trên.

Tranh “Đông Hồ” là tên gọi  theo tổng Đông Hồ  (có các xã: Đông Hồ, Tú Khê, Đạo Tú, Ngọc Tú, Tú Tháp, Lạc Thổ, Trương Xá, Đông Côi) (*), có cả các gia đình ở làng Tú Khê, Đạo Tú, Tú Tháp cũng làm tranh. Xưa, các làng này nằm ngay sát sông Đuống, do lụt lội luôn nên đến cuối thế kỷ XIX  được di vào trong đê như hiện nay.

Tổng Đông Hồ từ xưa, ngoài làm tranh tết còn có các  nghề làm hàng mã và đồ chơi trung thu. Để phục vụ cho những việc này lại có  nhiều nhà chuyên làm điệp, chuyên làm chổi thông, hay chuyên nhuộm giấy màu. Ngày nay, nghề làm hàng mă phát triển, sự chuyên môn hoá lại ở mức cao hơn, đi vào từng công đoạn. Có người chuyên đan (bằng tre nứa) những con giống như voi, ngựa, rắn… có những người chuyên trổ (bằng trang kim – giấy thiếc) những chi tiết tinh xảo của hàng mã. Và có người chuyên in tranh thờ bằng công nghệ hiện đại như in lưới .

Vào thời kỳ thịnh vượng của nghề tranh, hàng năm, sau khi ăn rằm tháng 7 là cả làng bước vào mùa làm tranh. Nguyên vật liệu đă chuẩn bị từ trước, bây giờ  chỉ việc mang ra làm, cả nhà cùng làm: Người quét điệp, người in màu, người in nét, người phơi, người đếm và đóng gói, thời đó có đơn vị “muôn”: mười vạn tranh gọi là một muôn. Vào tháng tháng chạp hàng năm, chợ tranh được mở ở Đình làng, có 5 phiên vào các ngày 6,11,16,21 và 27 âm lịch. Đây cũng là hội tranh, trước khi khai mạc chợ, các cụ cao tuổi trong làng làm lễ khấn thành hoàng, rồi đến các gia đình có tranh trưng bày, sắm trầu cau vào lễ thánh. Trong đại đình là chỗ ngồi của các gia đình làm tranh lâu đời, sau cả làng làm tranh thì phải làm lán ở ngoài sân, ngoài băi. Một số gia đình ở Tú Khê, Đạo Tú làm tranh thì không được bán ở đình Đông Hồ mà phải mang ra đê (chỗ điếm canh bây giờ) để bán. Bấy giờ có nhiều người buôn đường dài đi đò dọc trên sông đuống, sau khi xem tranh ở đình, họ vào tận nhà người làm tranh, lấy với số lượng lớn (có người đặt cho năm sau). Khách  buôn từ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh…  đổ về, từ Ninh Bình, Nghệ An, Thanh Hoá… kéo ra, người đi đường bộ, kẻ đi đường sông, họ mang theo hàng hoá để trao đổi, những đặc sản rừng như  Hồi, Quế, thớt gỗ nghiến …, rồi đặc sản biển như cá tôm khô, nước mắm, muối …

Chợ Hồ ngày tết - ảnh Võ An Ninh

Khách buôn  thường nhắc nhau:

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh.

Tranh Đông Hồ toả đi khắp các vùng quê của đất nước. Mỗi gia đình treo vài đôi tranh lên vách, nào là hứng dừa, đánh ghen; Tiến Tài, Tiến lộc, nào là gà đàn, lợn nái; Thiên ất, Vũ Đinh  v.v… Cùng với bánh trưng, chàng pháo, câu đối v.v…tranh Đông Hồ đă tạo nên không khí đầm ấm, hạnh phúc cho các gia đình Việt Nam thời trước mỗi khi tết đến. Trả thế mà nhà thơ Tú Xương (ở tận Nam Định) đã viết:

Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột

Om sòm trên vách bức tranh gà.

Còn người Đông Hồ thì rất tự hào về nghề truyền thống quê mình, điều đó đă được thể hiện trong ca dao:

Hỡi cô thắt  lưng bao xanh… (đă dẫn ở trên)

Và:

Hỡi anh đi đường cái quan,

Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu

Mua tờ tranh điệp tươi màu,

Mua đàn gà lợn, thi nhau đẻ nhiều.

Từ khi Thực dân Pháp xâm lược, các loại phẩm màu và giấy in được nhập vào nước ta,  Đông Hồ làm thêm loại tranh mới: Chỉ in nét trên một loại giấy của Pháp mà dân ta quen gọi là giấy “manh” (tiếng Pháp  main: tập giấy) rồi tô phẩm màu. Thời kỳ này có nhiều mẫu tranh mới, nhưng cũng că một số tranh được in bằng ván nét của tranh cũ .  Giấy “manh” nghệ nhân mua từng “rame”, tiếng “rame” của Pháp nói chệch ra thành “gam” cho nên loại tranh này gọi là “tranh gam”. Giấy  “gam” cũng có bất tiện vì tờ giấy có nếp gấp ở giữa; muốn  tranh đẹp nghệ nhân phải làm cho mất nếp gấp đi – rất mất thời gian. Sau đó ít lâu nhà máy giấy Đáp Cầu hoạt động, các nghệ nhân lại dùng giấy này làm tranh, khổ giấy lớn hơn , từ đó loại tranh bộ xuất hiện, mỗi bộ có  bốn tờ, kích thước khoảng 40 x 140 cm. Các Loại tranh này có ảnh hưởng tranh Hàng Trống và tranh Trung Quốc  về đề tài cũng như kỹ thuật thể hiện.

Tranh thờ thường được sản xuất nhiều ở Hàng Trống Hà Nội, làng Sình, làng Chuồn – Huế, loại tranh này ra đời muộn hơn tranh điệp Đông Hồ, sử dụng giấy  ngoại là chính (có lúc tranh Hàng Trống cũng dùng giấy Dó, nhưng không  có Điệp ) và chỉ in nét rồi tô màu bằng phẩm  của nước ngoài. Một kỹ thuật dặc trưng của tranh Hàng Trống là “vờn”: Nghệ nhân dùng bút lông bẹt, chấm một bên vào màu, một bên vào nước (hay keo) rồi “vờn” vào tranh, tạo ra một vệt màu chuyển sắc độ từ đậm sang nhạt dần. Đông Hồ nhanh chóng học được kỹ thuật này.

Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, tranh thờ bắt đầu du nhập vào Đông Hồ. Trước tiên là cụ Đám Giác (1882-1943 – tên thật là Nguyễn Thể Thức) vẽ vài bức Tứ phủ công đồng, Ng̣ũ hổ, Sơn trang… sau có người đặt để thờ (gọi là “thửa tranh”), rồi có người đặt để buôn, tranh thờ bắt đầu phát triển – nhưng vẫn là tranh vẽ tay – cụ Đám Giác vẽ rất chậm, có khi vài ngày mới được một bức tứ phủ. Sau đó con cụ Đám giác là nghệ nhân Nguyễn Thế Lãm (1913 – 1978)  cũng vẽ tranh thờ. Cho tới những năm 40, tranh thờ tiêu thụ được nhiều, nghệ nhân Hiền Năng (1912 – 1993 – tên thật là Phùng Đình Năng, sống ở làng Tú Khê – cháu gọi cụ Đám Giác là cậu rể, từng học vẽ cụ Đám Giác từ thở nhỏ), đã mở rộng sản xuất loại tranh này. Trước là lấy mẫu của cụ Đám Giác – đã cải biên tranh Hàng Trống, cải biên một lần nữa rồi đưa cắt ván, in hàng loạt. Nhu cầu tranh thờ ngày một cao, nghệ nhân Hiền Năng đã sáng tác thêm nhiều mẫu mới, sản xuất và bán rất chạy. Đến những năm 90 – thời Kinh tế thị trường, tự do tín ngưỡng mở rộng, tranh thờ tiêu thụ nhiều, ở Đông  Khê,  con cháu các nghệ nhân xưa đã mở mang, phát triển  nghề  làm tranh thờ, anh Hà Đức Huy là người đầu tiên áp dụng kỹ thuật in lưới để làm tranh thờ, lúc đầu chỉ in nét rồi tô màu, sau in tất cả các màu,  sản xuất rất nhanh, bán đi khắp các nơi. (Trong khi đó ở Hàng Trống chỉ còn một người làm tranh thờ là ông Lê Văn Nghiên, – vẫn vẽ theo lối cổ truyền, không “sản xuất” hàng loạt).

Nghệ nhân HIền Năng

Những năm 1960, ông Nguyễn Đăng Khiêm (người làng Đông Hồ sau sống ở Hà Nội) phụ trách phòng tranh dân gian Viện bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội,  mang một số tờ tranh Kim Hoàng về nhà, cắt ván, in trên giấy gió quét điệp – tranh Kim Hoàng đã trở thành tranh Đông Hồ. (Hiện nay một số người vẫn in các bức Chọi gà, chọi trâu – mà cứ tưởng là tranh cổ của Đông Hồ!).

Nghề cổ của làng Đông Hồ là làm tranh điệp cũng có sự thăng trầm. Trong kháng chiến chống Pháp, giặc đóng đồn ở ngã tư Hồ (cách làng 1km, nay vẫn còn lô cốt), nhiều gia đình bị  giặc cướp mất những ván tranh cổ, nghề làm tranh  bị đình đốn, chợ tranh không còn tấp nập như xưa.  Nhà thơ Hoàng Cầm  (người làng Lạc Thổ- cùng xã ) viết:

“… Mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột  đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu ? “

Đến năm 1967, dưới sự chỉ đạo của ti văn hoá tỉnh, phòng văn hoá huyện, hợp tác xã Tú Hồ thành lập một tổ làm tranh tập trung, công in, vẽ được tính bằng điểm, sau quy ra thóc.  Khi đó làm cả tranh điệp trên giấy dó lẫn tranh tô màu, xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu. Đến hết thời bao cấp thì tổ làm tranh  giải thể. Hiện nay  ở làng chỉ còn ba gia đ́nh  làm tranh: Gia đình  ông Nguyễn Đăng Chế, ông Nguyễn Hữu Sam và ông Trần Nhật Tấn.

(*)theo “Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ – Vũ Thị Minh Hướng, Nguyễn Văn Nguyên,  Philipp Papin -Viện viễn đông bác cổ – nxb Văn hóa thông tin, Cục lưu trữ nhà nước – xuât bản năm 1999)

THƯỞNG NGOẠN TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ (số 1)

THƯỞNG NGOẠN TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ (số 2)

THƯỞNG NGOẠN TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ (số 3)

THƯỞNG NGOẠN TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ (số 4)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: