THƯỞNG NGOẠN TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ (số 2)

Làng Đông Hồ

Chương một:

Đông Hồ trong vùng văn hoá Kinh Bắc

           Từ Hà Nội, theo quốc lộ 5 đến Phú Thuỵ, rẽ trái, thăm chùa Keo, chùa Dâu, lại rẽ trái, tới chùa Bút Tháp, theo bờ đê, qua đền thờ và lăng Kinh Dương Vương, cuối cùng đến làng tranh Đông Hồ – thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (cả thảy chừng 35 km). Trong ký ức những người cao tuổi, xưa, tên làng là Đông Mại, gọi nôm là làng Mái, thuộc tổng Đông Hồ, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An,  trấn Kinh Bắc.

Ta hãy cùng nhau ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về các địa danh này: Năm 1469, vua Lê Thánh Tông cho sửa định bản đồ, thừa tuyên Bắc Giang đổi là trấn Kinh Bắc, khi đó trấn Kinh Bắc gồm bốn phủ: Từ Sơn;  Bắc Hà; Lạng Giang;  Thuận An. Phủ Thuận An có năm huyện: Gia Lâm; Lang Tài; Siêu Loại; Văn Giang; Gia  Định. Năm 1822  trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Năm 1862 phủ Thuận An đổi là Thuận Thành.   Sau cách mạng tháng 8 năm 1945  bỏ cấp tổng, cấp xă được mở rộng. Năm 1963 hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang sát nhập thành Hà Bắc, từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra như cũ.

Như vậy đ̃ịa danh Kinh Bắc đã có cách đây gần 600 năm và không còn trên bản đồ đă được gần 200 năm. Mặc dầu vậy, từ “Kinh Bắc” vẫn thường xuyên xuất hiện trên thơ văn, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng – nhất là khi đề cập tới văn hoá. Điều gì là nguyên nhân của hiện tượng này ?

Trước hết  hãy nhắc tới lĩnh vực Khảo cổ:

Qua nhiều đợt khai quật, các nhà khảo cổ đă t́m thấy một số lượng hiện vật lớn và phong phú về chủng loại.

Thời đại đồ đá mới: ở Thiên Đức (Thái Bảo – Gia Lương) và ở Tam Giang (Yên Phong) cùng tìm thấy những chiếc rìu đá mài, có vai cân xứng màu xám và nhẵn . Những chiếc rìu này chứng tỏ kỹ thuật chế tạo đá đã rất tinh xảo. Ven sông Cầu, sông Đuống và các chi lưu đã có con người định cư và canh tác.

Thời đại đồ đồng:  Đôi bờ sông Đuống, sông Dâu có nhiều di chỉ khảo cổ có giá tr̃ị Di chỉ Đại Lai (Gia Lương) di chỉ Đồng Nội  thôn Đại Trạch xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành) có niên đại Đường Cồ, Di chỉ bãi giữa sông Dâu xã Thanh Khương (Thuận Thành) có niên đại Đường Cồ sớm. Ở các di chỉ này người ta tìm thấy: Rìu đá, vòng tay đá, đục đá, chày đá; rìu đồng, lao đồng,  mũi tên đồng; nồi gốm, doi xe chỉ gốm, bi gốm, chân gị gốm v.v… Các di chỉ này cho thấy con người đă khai phá và chinh phục vùng Kinh Bắc từ rất sớm – ít nhất là 4000 năm trước đây.

Về các di tích lịch sử, văn hoá

Riêng ở  Thuận Thành đă có rất nhiều:

Lăng Sĩ Vương

– Đền và lăng Kinh Dương Vương ở làng Á Lữ xã Đại Đồng Thành.  Kinh Dương  Vương là  người sinh ra Lạc Long  Quân, Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra vua Hùng  mở đầu các triều đại ở nước ta.

– Đền và lăng Sỹ Nhiếp ở làng Tam á xã Gia Đông,  cổng đền  có  chữ  Nam Giao học tổ (sẽ nói về Sỹ Nhiếp kỹ hơn trong mục học tập, khoa bảng);

– Đền Lũng Khê và thành Luy Lâu thuộc xã Thanh Khương.

Chùa Dâu – tên chữ là Pháp Vân tự, thuộc xã Thanh Khương. Đây có thể coi là cái nôi của phật giáo Việt Nam, đạo phật được truỷền vào đây từ thế kỷ thứ III sau công nguyên. Theo “Thiền Uyển tập anh”: “Xứ Giao Châu có đường thông sang tây Trúc, Phật giáo vào Trung Quốc ,chưa phổ cập đến miền Giang Đông mà nơi ấy đã xây ở Luy Lâu 20 ngọn bảo tháp, độ được 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi”.  Nhà sư Tìniđalưuchi người Tây Tạng đã trụ trì ở đây và lập nên phái Thiền Tông. Môn đồ của ông sau trở thành những người nổi tiếng trong phật giáo nước ta như: Từ Đạo Hạnh, Pháp Hiền, Vạn Hạnh…

Chùa Dâu

– Chùa Bút Tháp – tên chữ là Ninh Phúc tự, thuộc xã Đình Tổ, có tháp đá cao 13m và pho tượng phật bà nghìn mắt, nghìn tay – một kiệt tác điêu khắc phật giáo nước ta.

Huyện Từ Sơn có:

– Đền Lý bát đế  thờ tám vị vua nhà Lý bắt đầu từ Lý Thái Tổ – người dời đô từ

Hoa  Lư về Thăng Long mở đầu một thời kỳ thịnh vượng ở nước ta.

–  Đình Đình Bảng – một công tŕnh Kiến trúc tiêu biểu  về ngôi đình của cư dân đồng bằng Bắc Bộ với nhiều trạm khắc tuyệt tác như: Lưỡng long chầu nguyệt, Cửu long  tranh châu, Lục long ngự thiên, Long vân đại hội, rồi Phượng vũ, Tứ linh, Tứ quí, Bát mã  quần phi, Sư tử hí cầu v.v…

Chùa Bút Tháp

– Chùa Phật tích thuộc xă Phật Tích – với pho tượng đá phật Adi đà ngồi “Tĩnh  toạ kiết già”, tháp Báo Nghiêm xây dựng từ năm 1692 và 31 ngọn tháp khác.

Ngoài ra còn nhiều di tích khác như: Đền thờ Cao Lỗ ở Gia Lương, chùa Bà Tấm ở Quế Võ, Đình Thổ Hà ở Việt Yên v.v…

Về việc học tập, khoa bảng

Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, Luy Lâu (Thuận Thành) và Long Biên (Yên Phong)  thay nhau làm thủ phủ của chính quyền đô hộ. Đầu Công nguyên,  hai viên thái thú là Tích Quang và Nhâm Diên đă “Dựng học hiệu”, “Dạy lễ nghĩa”  ở Giao Chỉ và Cửu Chân.  Sau đó, Sỹ Nhiếp- người nước Lỗ, đỗ Hiếu Liêm, được bổ Thượng thư lang, sau lại được cử Mậu Tài, thời vua Hán Hiến đế, Sỹ Nhiếp được cử sang làm thái thú Giao Chỉ (từ năm 187 đến năm 226), ông xin vua Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu. Kế tục công việc của Tích Quang và Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của Nho học ở giao Châu: tổ chức học hành, truyền bá chữ viết, nâng cao dân trí, vì vậy ông được dân phong là Nam Giao học tổ, và gọi là Sỹ Vương mặc dù ông chưa được phong vương bao giờ và ông c̣ng chưa từng xưng vương.

Kinh Bắc là vùng hiếu học, lại tiếp xúc với nho học sớm, do đó việc học tập và thi cử ở đây  phát triển mạnh mẽ, số người đỗ đạt nhiều nhất nước.

Trong 845 năm khoa cử (1075-1919) cả nước có 187 khoa thi đại khoa (thi hội, thi đ́nh) với 2991 tién sỹ, Kinh Bắc tham dự 145 khoa, đỗ 645 tiến sỹ (chiếm gần 1/4 số tiến sỹ cuả cả nước) và số người đỗ “tam khôi” (Trạng nguyên, bảng nhăn, thám hoa) là 17/47.

Theo sách “Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo” do tiến sỹ Phan Hoà Phủ biên tập, học trò ông là Lễ Trai Phan Huy Sảng hiệu đính, ghi chép số người đỗ đại khoa từ năm 1075 đến năm 1788 (hết đời Lê Trung hưng) thì Kinh Bắc đỗ được 593 người, gồm 15 trạng nguyên, 8 bảng nhãn, 23 thám hoa, 129 Hoàng giáp, 418 tiến sỹ. Trong đó Thuận An có 236 người: 6 trạng nguyên, 2 bảng nhăn, 7 thám hoa, 53 hoàng giáp, 168 tiến sỹ; Trong phủ Thuận An, huyện Siêu Loại  có 36 người đỗ tiến sỹ. Dân gian có câu “Dốt Lạc Thổ cứỡi cổ thiên hạ” (làng Lạc Thổ xưa nằm trong tổng Đông Hồ – Thuận Thành).

Năm 1075, tại khoa thi tam trường, Lê Văn Thịnh (người làng Đông Cứu huyện Gia Bình) đă đỗ đầu, ông được coi là trạng nguyên khai khoa của cả nước. Năm 1469 Thân Nhân Trung (người xă Yên Ninh huyện Yên Dũng) đỗ tiến sỹ, đựơc giao khắc bia ở Văn miếu, câu văn nổi tiếng  của  ông luôn được các thế hệ ngày nay nhắc tới: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.

THƯỞNG NGOẠN TRANH ĐÔNG HỒ (số 1)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: