TRANH ĐÔNG HỒ VỚI ĐỜI SỐNG

Phùng Hồng Kổn

 

Làng Đông Hồ (huyện Thuận thành tỉnh Bắc Ninh) có nghề làm tranh dân gian từ lâu đời. Vào những năm đầu thế kỉ XX, nghề tranh thịnh vượng, cả làng nhà nào cũng làm tranh. Trong mỗi nhà hầu như tất cả các thành viên từ cụ già đến trẻ em đều tham gia làm tranh. Khi đó bến đò Hồ bên sông Đuống luôn tấp nập thyền bè đến “Ăn tranh”. Người buôn tranh từ miền núi đổ xuống, từ miền biển kéo lên, họ bán lâm sản, hải sản để mua tranh Đông Hồ. Những tờ tranh gà, lợn mộc mạc được mang đi khắp nơi, được dán lên vách các gia đình. Cùng với “cây nêu, tràng pháo, bánh trưng xanh- thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ” tranh Đông Hồ đã góp phần tạo nên những cái tết vui vẻ đầm ấm trong mỗi gai đình nông dân thuở trước. Như nhà thơ Tú Xương viết:

“Đì đẹt ngoài sân chàng pháo chuột

Om sòmg trên vách bức tranh gà”

Đến nay, làng Đông Hồ chỉ còn vài gia đình làm tranh. Mặc dù được sự quan tâm của UNESCO, sự quan tâm của nhà nước ; với  sự say mê của các nghệ nhân nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, nhưng không khí tấp nập của chợ tranh ở Đình làng mỗi dịp tết đến – nay chỉ còn trong kí ức những người cao tuổi. Tuy nhiên, tranh Đông Hồ vẫn tồn tại và tồn tại mãi. Không chỉ hiện diện bằng chính tờ tranh mà tranh Đông Hồ đã len lỏi vào khắp các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, cuộc sống đời thường.

Nhà thơ Hoàng Cầm viết về quê mình:

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

    Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

          Màu  dân tộc sáng bừng trên giấy điệp   .

           Nhà thơ Bàng Bá Lân thì viết về cái tết dân tộc:

Tết về nhớ bánh trưng xanh

Nhớ chàng pháo chuột nhớ tranh lợn gà.

           Nhà thơ Đoàn Vă Cừ  viết về chợ tết:

Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà

Quên cả chị bên đường đang đứng gọi…

            Tranh Đông Hồ đã “lên thơ”, và sẽ còn lên nữa.

Bạn đã xem màn núa Hứng dừa, Đám cưới chuột? Một sự trùng hợp lý thú là có nhiều biên đạo cùng dựng hai màn múa này. Mỗi người có một cách chuyển thể từ tranh thành múa khác nhau. Một trong những tác phẩm  đó là màn múa của Cố nghệ sỹ nhân dân Thái Ly (đã phát trên VTV)  . Phải công nhận rằng, các tác giả biên đạo và âm nhạc đã bắt được cái “thần” của hai bức tranh này. Với tiết tấu nhanh, vui của âm nhạc, vũ điệu khoẻ khoắn của múa, người xem cảm thấy phấn khích như chính mình là người trong cuộc. Mới đây các tác giả ở thành phố Hồ Chí Minh còn dựng tranh Đám cưới chuột thành  vở múa dài: Chuyện nhà mèo.

Bạn là người chơi tem, chủ đề sưu tập của bạn là Mỹ thuật hoặc văn hóa dân tộc? – hẳn bạn không thể thiếu những bộ tem về tranh dân gian tranh Đông Hồ. Có những tem lấy nguyên bản tranh tranh như:Thầy đồ cóc, Đám cưới chuột, Rước trống, Đấu vật, Đánh ghen, Hứng dừa… có tem đã cải biên, phát triển từ tranh Đông Hồ như Gà đàn, Lợn nái, Vinh hoa, Phú quí…:

Trong báo chí có “truyện cổ tân trang” thì trong hội hoạ cũng có “Tranh cổ tân trang”, mời bạn đọc thưởng thức mấy bức tranh vui “tân trang” từ tranh Đông Hồ (trích từ Mỹ thuật cười xuân Tân Tỵ):

Tranh Đông Hồ trên bưu thiếp: Có loại in ốp sét trên giấy bóng, có loại vẽ mực nho trên giấy Dó, và chính các nghệ nhân Đông Hồ cũng sản xuất loại tranh mi ni, dán trên tờ giấy gấp làm bưu thiếp.


    Tranh Đông Hồ trên lịch cũng có đủ loại: Lịch treo tường, lịch bàn, lịch bloc in mờ làm nền.

Đông Hồ trên bìa sách:

Tranh Đông Hồ trên đồ gốm :

Tranh Đông Hồ trên mành tre:

Tranh Đông Hồ trên áo phông:

Tranh Đông Hồ gò đồng:

Tranh Đông Hồ ghép bằng cánh bướm:

Thâm chí cả tranh Đông Hồ trên điện thoại cầm tay:

Trong âm nhạc, các bản nhạc hay ca khúc mang âm hưởng dân ca có lẽ không khó nhận ra đối với người nghe, hơn thế, còn có một thể loại âm nhạc: Biến tấu trên chủ đề dân ca. Trong hội hoạ hiện đại không dễ dàng khi nói rằng tác phẩm này hay tác phẩm kia mang phong cách dân tộc hay ảnh hưởng tranh dân gian. Học tập truyền thống cha ông không phải việc dễ dàng, cần biết chắt lọc những gì tinh tuý nhất, biết “gạn đục khơi trong”, biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ nhất thì mới có thể  có được tác phẩm chất lượng cao. Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Quân, đã có thời tranh tuyên truyền ở nước ta vẽ thế này: “Về nông nghiệp thì gần như đều vẽ một cô gái chăn nuôi tay ôm một bó lúa, xúm xít  quanh  chân là những đàn lợn dân gian với các xoáy âm dương nổi tiếng, phía sau là đồng lúa chín vàng và xa tít chân trời là nhà máy đang phun khói”(Nghệ thuật tạo hình Viẹt Nam hiện đại – nxb Văn hóa trang 182). Nhứng bức tranh như thế chỉ có giá trị nhất thời, không thể nói đó là tác phẩm mang tính dân tộc được.

Nguyễn Phan Chánh, hoạ sỹ bậc thầy về tranh lụa, người mở đường cho tranh lụa Việt Nam, đã có cách chọn đề tài và thể hiện không giống ai, và cũng không ai học được phong cách của ông. Giữa cái mới mẻ, rực rỡ của Sơn dầu, cái lộng lẫy của Sơn mài – với những thiếu nữ bên bình phong, thiếu nữ bên hoa hụê, hoa sen, hoa cúc… Nguyễn Phan Chánh chọn lụa với gam màu nâu đen – màu của đất. Ông cũng vẽ thiếu nữ, nhưng là thiếu nữ: Tắm ao, Kỳ lưng, Rửa rau cầu ao…, hay các em bé: Chơi ô ăn quan, cho chim ăn… Cả cuộc đời nghệ thuật của mình, hầu như Nguyễn Phan Chánh chỉ vẽ thuần một đề tài: Nông thôn. Xem tranh Nguyễn Phan Chánh như được nghe một người bạn thủ thỉ tâm sự về những việc bình dị hàng ngày ở một miền quê yên tĩnh, thanh bình. Đến tranh về chiến tranh của ông cũng bình dị, ông tả “Sau giờ trực chiến” – chữ không phải đúng lúc trực chiến, đúng lúc đánh nhau. Sự sum vầy của mẹ và con sau những giờ phút trực chiến căng thẳng có sức mạnh phản chiến đâu có kém gì cảnh bom đạn!. Nếu bỏ qua kỹ thuật vẽ tranh lụa và những hiệu quả của nó, xét về đề tài và phong cách – có thể nói tranh của Nguyễn Phan Chánh rất gần gũi với tranh Đông Hồ: những tranh về gà, lợn, trâu, và các tranh em bé với cá, tôm, cóc, rùa v.v… Cả hai – tranh Nguyễn Phan Chánh và tranh Đông Hồ – đều quá đỗi mộc mạc, quê mùa, quá đỗi gần gũi với người nông dân Việt Nam.

Nguyễn Tư Nghiêm – hoạ sỹ nổi tiếng về tranh sơn mài – lại có cách học  tập dân gian khác cách của Nguyễn Phan Chánh. Trong tranh con nghé quả thực, hay tranh Điệu múa cổ, tác giả đã thành công trong việc phối hợp luật viễn cận của hội hoạ hiện đại  với lối bố cục Bình đồ dân gian (dàn tất cả lên mặt phẳng) của tranh Đông Hồ. ở tranh Kiều và Kim Trọng hay Đêm giao thừa  ở hồ Gươm (và nhiều tranh khác của ông), ta lại thấy tác giả sử dụng các đường viền kiểu tranh Đông Hồ nhưng đã biến ảo tài tình, nét không đều, không liền mạch, mà có chỗ thanh, chỗ đậm, chỗ uốn khúc, chỗ đứt đoạn, chỗ gẫy gập … – gây những hiệu quả thẩm mỹ đăc biệt. Hoạ sỹ Nguyễn Tư Nghiêm đã từng nói “Tôi không gắn bó với một nghệ thuật nước ngoài nào cả, tôi chỉ tìm nơi dân tộc, và thấy trong đó có nhân loại và hiện đại” (theo Thái Bá Vân: Đọc Nguyễn Tư Nghiêm một mệnh đề đứng riêng – tranh Nguyễn Tư Nghiêm trong sưu tập Nguyễn Thu Giang – nxb Mỹ thuật 1994 – trang 13).

Phạm Minh Hải, một đại diện của lớp hoạ sỹ sau chiến tranh, cũng hay sử dụng đường viền trong tranh. Không trơn chu như đường viền tranh Đông Hồ, không thay đổi thanh đậm liên tục hay gấp khúc đột ngột như đường viền trong tranh Nguyễn Tư Nghiêm, đường viền trong tranh Phạm MInh Hải thường sần sùi, thô ráp. Chẳng hạn các bức: Tĩnh vật I, Khoả thân (chất liệu tổng hợp – 1996) hay Tắm (phấn màu – 1998).

Điểm qua ba hoạ sỹ ba thế hệ, chắc chắn còn rất tác phẩm của nhiều hoạ sỹ – có ảnh hưởng của tranh Đông Hồ, xin nhường cho độc giả phẩm bình.

Một ngàn năm Bắc thuộc mà ta không bị Trung Hoa hóa, một trăm năm Pháp thuộc mà ta không bị Pháp hóa – bởi lẽ ta có một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, Không ngần ngại khi nói rằng : tranh Đông Hồ đã đóng góp một phần không nhỏ vào  bản sắc dân tộc đó.

PHK

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: